TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 07 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tăng Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Vượng
Ông Hoàng Văn Hùng
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 07/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ma Văn C, sinh ngày 08/4/1974, tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn C, xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ma Văn T (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1954; vợ Lương Thị S, sinh năm: 1976 (đã ly hôn), con: có 03 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm: 2002.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số 129/2008/HSST ngày 06/11/2008 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Ma Văn C 01 năm tù về tội Chống người thi hành công vụ, phải nộp 50.000đ án phí HSST (đã nộp ngày 19/01/2009). C chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/7/2009
- Bản án số 133/2013/HSST ngày 16/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Ma Văn C 03 năm tù về tội Cướp tài sản, phải nộp 200.000đ án phí HSST (đã nộp ngày 18/02/2014). C chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến ngày 05/4/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lương Thị S, sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa,
- Anh Mông Minh T2, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Anh Lương Văn H, sinh năm: 1982; địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên tòa;
- Anh Hà Văn T3, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 13/02/2024, sau khi đã sử dụng rượu, do bực tức vì 03 người con gái là chị Ma Thị O, sinh năm 1993; Ma Thị T4, sinh năm 1995; Ma Thị T5, sinh năm 2002 về quê ăn Tết nhưng không đến nhà ăn cơm nên Ma Văn C lấy 01 thanh kiếm bằng kim loại màu đen, dài 80,4cm, lưỡi kiếm dài 59,8cm, bản rộng nhất 3,3cm, lưỡi kiếm sắc, đầu kiếm nhọn, vỏ bao bằng gỗ màu vàng (C mua của một người không xác định được tên, tuổi, địa chỉ trên mạng xã hội Facebook mục đích làm vật trang trí trong nhà) một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh (xe của em trai C là Ma Văn Đ để ở nhà C từ trước) đến nhà bà Lương Thị S (vợ cũ của C) cách nhà C khoảng 100m. Thấy C cầm theo kiếm đi đến, bà S, chị O, chị T4, chị T5 sợ C vào nhà đập phá tài sản, đánh gây thương tích nên đã khóa cửa và ở trong nhà. C gọi nhưng mọi người trong nhà không mở cửa.
C đi quanh nhà và dùng kiếm chém vỡ 02 cánh cửa sổ phòng ngủ phía trước nhà bà S, vỏ bao đựng kiếm rơi xuống sân vỡ làm 3 mảnh, C tiếp tục đâm 03 nhát vào cánh cửa sổ kim loại, đâm 11 nhát vào cửa chính bằng tôn phía sau nhà làm thủng cửa và chém vỡ 02 cánh cửa kính phòng ngủ. Thấy C có hành vi hủy hoại tài sản nên bà S gọi điện cho anh Ma Văn C1, sinh năm 1982 (em trai C) ở cùng thôn đến can ngăn, anh C1 gọi điện thoại cho anh Lương Văn H là Công an viên bán chuyên trách tại thôn C, xã M báo cáo sự việc.
Khi anh H đến hiện trường thì thấy C đang ở nhà anh Lương Ngọc K, sinh năm 1990 (cách nhà bà S 25m) nên gọi điện thoại trình báo sự việc với anh Mông Minh T2- Chức vụ Phó trưởng Công an xã M (được phân công trực bảo đảm an ninh trật tự Tết Nguyên đán từ ngày 11/02/2024 đến ngày 15/02/2024 (tức mùng 2 đến mùng 6 Tết) theo Danh sách cán bộ trực Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 số 05/DS-CAX ngày 26/01/2024 của Công an xã M).
Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, anh T2 mặc trang phục Công an nhân dân đúng điều lệnh, đội mũ bảo hiểm có cằm màu xanh, cầm theo công cụ hỗ trợ là 01 gậy nhựa màu đen dài 68cm, đường kính 3,6cm điều khiển xe mô tô đi đến và cùng anh H vào nhà bà S để giải quyết vụ việc. Khi đến cổng nhà bà S thì thấy C cầm theo kiếm đi từ nhà anh K về phía nhà bà S, thấy C có biểu hiện manh động, gây mất an ninh trật tự, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác nên anh T2 đã bảo anh H dùng diện thoại di động ghi hình lại sự việc, đồng thời anh T2 hô to: “Tôi là T2- Phó trưởng Công an xã, yêu cầu anh dừng lại, không được đập phá nữa”. Thấy anh T2 nói vậy C đang đi lên cổng nhà bà S thì quay lại. C cầm kiếm tiến thẳng về phía anh T2, anh T2 tiếp tục nói to: “Tôi T2, Phó trưởng Công an xã, yêu cầu anh dừng lại, đi về nghỉ ngơi”, mục đích để C dừng lại nhưng C không chấp hành mà cầm kiếm lao về phía anh T2, khi khoảng cách giữa 02 người khoảng 1,5m thì C vung kiếm chém 01 nhát trúng mũ bảo hiểm của anh T2, C tiếp tục chém thì anh T2 giơ gậy nhựa lên đỡ. Thấy C chống đối và có hành vi dùng vũ lực gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của tổ công tác nên anh T2 cùng anh H lao vào khống chế tước lấy thanh kiếm trên tay C. Anh Mông Minh T2 không bị thương tích gì. C tiếp tục chửi và đe dọa anh T2 nhưng mọi người can ngăn nên C đi về nhà lấy 01 con dao (loại dao gọt hoa quả), lưỡi dao dài 10cm, bản dao rộng 2,3cm, phần chuôi dao bằng nhựa dài 09cm quay lại nhà bà S mục đích tìm anh T2 nhưng không thấy nên C đi về. Sau đó, Cơ quan điều tra triệu tập C đến trụ sở để làm việc.
Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn hồi 22 giờ 07 phút ngày 13/02/2024 của Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện S đối với Ma Văn C, kết quả: 0,679mg/L khí thở.
* Kết luận giám định số 388 ngày 26/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh, âm thanh trong file video gửi giám định; Đặc điểm về người, đồ vật, diễn biến, hành động của những người có liên quan được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo; Nội dung các cuộc hội thoại trong file video gửi giám định đã được dịch thành văn bản trong bản dịch kèm theo; K1 theo Kết luận giám định: 01 Bản ảnh giám định gồm 05 (năm) trang A4, 01 bản dịch nội dung mẫu cần giám định gồm 08 (tám) trang A4.
* Kết luận định giá số 08 ngày 27/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S: 02 cửa kính, khung nhôm, mỗi cánh cửa có kích thước (45x130)cm, dày 0,5cm (cửa kính được mua mới và lắp đặt tháng 01/2019), trị giá còn lại 458.640 đồng; 02 tấm kính bị vỡ, mỗi tấm kính có kích thước (29x42)cm, dày 0,4cm (kính được mua mới và lắp đặt tháng 02/2019), trị giá còn lại 43.758 đồng; công sửa chữa 03 vết lõm trên cửa dạng khung kim loại kích thước (1,20x1,40)cm, vết dài nhất là 06cm, rộng 0,3cm (cửa được mua mới và lặp đặt tháng 02/2020) là 60.000 đồng; công sửa chữa 11 vết rách, lõm trên cửa khung kim loại kích thước (76x211)cm; vết rách lõm hướng từ ngoài vào trong các vết có chiều dài trung bình 05cm, rộng 0,7cm (cửa được mua mới và lắp đặt tháng 02/2020) là 80.000đ. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 642.398 đồng (Sáu trăm bốn mươi hai nghìn ba trăm chín mươi tám đồng).
* Về vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ:
- 01 (một) gậy nhựa màu đen GNP5-H09-BCA, số seri 2020094168. NSX: 04/2020-HSD: 04/2025, dài 68cm, đường kính 3,6cm. Trên thân gậy cách đầu gậy 21,5cm có vết tỳ lõm dài 01cm, rộng 0,2cm, bờ mép tương đối sắc gọn. Gậy được niêm phong theo quy định;
- 01 (một) mũ bảo hiểm, dạng mũ cầm màu xanh, kính chắn gió trong suốt, phía sau mũ có tem số No 69912; mặt ngoài mũ phía trên kính chắn gió có vết trượt mất sơn, hướng mũ từ trên xuống dưới, dài 0,9cm, rộng 0,2cm. Được niêm phong theo quy định;
- 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong có 01 dao bằng kim loại, dài 19cm, đầu dao nhọn, trong đó phần chuôi dao bằng nhựa dài 09cm, màu nâu; lưỡi dao dài 10cm, bản dao rộng 2,3cm. Phần lưỡi dao được bọc bằng 01 vỏ bao nhựa màu nâu;
- 01 (một) kiếm màu đen dài 80,4cm, lưỡi kiếm dài 59,8cm, bản rộng nhất 3,3cm, lưỡi kiếm sắc, đầu kiếm nhọn. Kiếm được niêm phong theo quy định;
- 01 (một) túi niêm phong mã số NS3 2119890 thu tại vị trí số 01 trong quá trình khám nghiệm hiện trường, bên trong có nhiều mảnh kính vỡ;
- 01 (một) túi niêm phong mã số NS3 2119896 thu tại vị trí số 05 trong quá trình khám nghiệm hiện trường, bên trong có nhiều mảnh kính vỡ;
- 03 (ba) mảnh gỗ thu tại vị trí số 02 trong quá trình khám nghiệm hiện trường; trong đó mảnh gỗ thứ nhất dài 62,5cm, bản rộng 4,4cm; mảnh thứ 2 dài 37,4cm, bản rộng 4,4cm; mảnh gỗ thứ 3 dài 33,5cm, bản rộng 4,4cm. Cả 03 mảnh gỗ đều có một mặt nhẵn tráng màu vàng đỏ, một mặt kém nhẵn màu gỗ. 03 mảnh gỗ được niên phong theo quy định.
Đối với 01 đĩa DVD-R chứa 01 file dữ liệu hình ảnh video trích xuất từ điện thoại di động của anh Lương Văn H được niêm phong kèm theo hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Bà Lương Thị S và anh Mông Minh T2 không có yêu cầu, đề nghị gì.
Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 44/CT-VKSSD, ngày 05/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Ma Văn C về tội Chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Ma Văn C tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình, nguyên nhân là do các con bị cáo hứa về ăn cơm với bị cáo nhưng bị cáo chờ mãi mà không thấy các con về nên bị cáo cảm thấy không được tôn trọng cộng với việc có rượu trong người nên bị cáo không giữ được bình tĩnh đã đến nhà bà S mục đích để hỏi tại sao các con không về nhà bị cáo và cũng muốn để dọa các con. Khi được anh T2 can ngăn bị cáo không giữ được bình tĩnh nên đã xảy ra xô xát với anh T2, bị cáo cảm thấy rất ân hận về hành động của mình. Bị cáo gửi lời xin lỗi bà S, anh T2 và hứa sẽ không tái phạm.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà S, anh T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Anh T2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho anh chiếc mũ bảo hiểm và gậy nhựa để anh bàn giao lại cho cơ quan.
- - Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- + Tuyên bố: Bị cáo Ma Văn C phạm tội Chống người thi hành công vụ.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm d khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Văn C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
- - Về xử lý vật chứng: Trả lại cho anh Mông Minh T2: 01 (một) gậy nhựa màu đen và 01 (một) mũ bảo hiểm; Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dao bằng kim loại; 01 (một) kiếm màu đen; 01 (một) túi niêm phong mã số NS3 2119890 thu tại vị trí số 01 trong quá trình khám nghiệm hiện trường, bên trong có nhiều mảnh kính vỡ; 01 (một) túi niêm phong mã số NS3 2119896 thu tại vị trí số 05 trong quá trình khám nghiệm hiện trường, bên trong có nhiều mảnh kính vỡ và 03 (ba) mảnh gỗ thu tại vị trí số 02 trong quá trình khám nghiệm hiện trường.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thực sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 13/02/2024, Ma Văn C cầm 01 thanh kiếm bằng kim loại màu đen, dài 80,4cm, lưỡi kiếm dài 59,8cm, bản rộng nhất 3,3cm, lưỡi kiếm sắc, đầu kiếm nhọn đến đập phá tài sản nhà bà Lương Thị S (vợ cũ của C).
Khi được trình báo, khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, anh Mông Minh T2- Chức vụ Phó trưởng Công an xã M (mặc trang phục Công an nhân dân theo quy định) thực hiện nhiệm vụ trực Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã M đến và yêu cầu Ma Văn C đi về nhưng C không chấp hành mà đã có hành vi chém 01 nhát trúng mũ bảo hiểm anh T2 đang đội và 01 nhát trúng công cụ hỗ trợ (gậy) của anh T2 nhằm cản trở việc bảo vệ an ninh trật tự của anh T2.
Hành vi của Ma Văn C đã phạm vào Tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.
[2] Về tính chất của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ của người đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự an toàn công cộng, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi chống người thi hành công vụ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 01 năm tù về tội Chống người thi hành công vụ; năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản. Sau khi chấp hành án xong trở về địa phương lẽ ra bị cáo phải tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội. Nhưng do nóng giận vì cho rằng các con không tôn trọng mình, bị cáo đã cầm kiếm đến nhà bà S đập phá. Khi được anh T2 là Phó trưởng Công an xã đến và yêu cầu đi về nhưng bị cáo không chấp hành mà cầm kiếm tiến thẳng về phía anh T2 liên tiếp chém 02 nhát vào anh T2. Sau khi lực lượng chức năng khống chế tước lấy thanh kiếm trên tay, bị cáo vẫn chửi và đe dọa anh T2, bị cáo về nhà lấy 01 con dao mục đích tìm anh T2. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính hung hãn, coi thường sức khỏe của người khác, “có tính chất côn đồ” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, sau khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam trong thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bà Lương Thị S và anh Mông Minh T2 không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về vật chứng:
- - Đối với: 01 (một) dao bằng kim loại, dài 19cm, đầu dao nhọn, trong đó phần chuôi dao bằng nhựa dài 09cm, màu nâu; lưỡi dao dài 10cm, bản dao rộng 2,3cm. Phần lưỡi dao được bọc bằng 01 vỏ bao nhựa màu nâu và 01 (một) kiếm màu đen dài 80,4cm, lưỡi kiếm dài 59,8cm, bản rộng nhất 3,3cm, lưỡi kiếm sắc, đầu kiếm nhọn. Đây là công cụ, phương tiện C sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với: 01 (một) túi niêm phong mã số NS3 2119890 thu tại vị trí số 01 trong quá trình khám nghiệm hiện trường, bên trong có nhiều mảnh kính vỡ; 01 (một) túi niêm phong mã số NS3 2119896 thu tại vị trí số 05 trong quá trình khám nghiệm hiện trường, bên trong có nhiều mảnh kính vỡ và 03 (ba) mảnh gỗ thu tại vị trí số 02 trong quá trình khám nghiệm hiện trường; trong đó mảnh gỗ thứ nhất dài 62,5cm, bản rộng 4,4cm; mảnh thứ 2 dài 37,4cm, bản rộng 4,4cm; mảnh gỗ thứ 3 dài 33,5cm, bản rộng 4,4cm. Cả 03 mảnh gỗ đều có một mặt nhẵn tráng màu vàng đỏ, một mặt kém nhẵn màu gỗ. 03 mảnh gỗ được niên phong theo quy định. Đây là vật chứng của vụ án không sử dụng được, cần tịch thu và tiêu hủy.
- - Đối với: 01 (một) gậy nhựa màu đen GNP5-H09-BCA, số seri 2020094168. NSX: 04/2020-HSD: 04/2025, dài 68cm, đường kính 3,6cm. Trên thân gậy cách đầu gậy 21,5cm có vết tỳ lõm dài 01cm, rộng 0,2cm, bờ mép tương đối sắc gọn và 01 (một) mũ bảo hiểm, dạng mũ cằm màu xanh, kính chắn gió trong suốt, phía sau mũ có tem số No 69912; mặt ngoài mũ phía trên kính chắn gió có vết trượt mất sơn, hướng mũ từ trên xuống dưới, dài 0,9cm, rộng 0,2cm. Đây là tài sản của anh M Minh T2 cần trả lại cho anh T2.
- - Đối với 01 đĩa DVD-R chứa 01 file dữ liệu hình ảnh video trích xuất từ điện thoại di động của anh Lương Văn H được niêm phong kèm theo hồ sơ vụ án.
[6] Các vấn đề khác: Đối với việc Ma Văn C có hành vi sử dụng vũ khí thô sơ (kiếm) và cố ý làm hư hỏng tài sản của bà Lương Thị S, giá trị tài sản bị thiệt hại là 642.398 đồng. Ngày 31/3/2024, Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ma Văn C, hình thức phạt tiền. Xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 330; điểm d khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
1. Về tội danh:
Tuyên bố Bị cáo Ma Văn C phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Ma Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án hình sự, trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến ngày 05/4/2024.
3. Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dao bằng kim loại, dài 19cm, đầu dao nhọn, trong đó phần chuôi dao bằng nhựa dài 09cm, màu nâu; lưỡi dao dài 10cm, bản dao rộng 2,3cm. Phần lưỡi dao được bọc bằng 01 vỏ bao nhựa màu nâu và 01 (một) kiếm màu đen dài 80,4cm, lưỡi kiếm dài 59,8cm, bản rộng nhất 3,3cm, lưỡi kiếm sắc, đầu kiếm nhọn; 01 (một) túi niêm phong mã số NS3 2119890 thu tại vị trí số 01 trong quá trình khám nghiệm hiện trường, bên trong có nhiều mảnh kính vỡ; 01 (một) túi niêm phong mã số NS3 2119896 thu tại vị trí số 05 trong quá trình khám nghiệm hiện trường, bên trong có nhiều mảnh kính vỡ và 03 (ba) mảnh gỗ thu tại vị trí số 02 trong quá trình khám nghiệm hiện trường; trong đó mảnh gỗ thứ nhất dài 62,5cm, bản rộng 4,4cm; mảnh thứ 2 dài 37,4cm, bản rộng 4,4cm; mảnh gỗ thứ 3 dài 33,5cm, bản rộng 4,4cm. Cả 03 mảnh gỗ đều có một mặt nhẵn tráng màu vàng đỏ, một mặt kém nhẵn màu gỗ. 03 mảnh gỗ được niên phong theo quy định.
- - Trả lại cho anh Mông Minh T2: 01 (một) gậy nhựa màu đen GNP5-H09-BCA, số seri 2020094168. NSX: 04/2020-HSD: 04/2025, dài 68cm, đường kính 3,6cm. Trên thân gậy cách đầu gậy 21,5cm có vết tỳ lõm dài 01cm, rộng 0,2cm, bờ mép tương đối sắc gọn và 01 (một) mũ bảo hiểm, dạng mũ cằm màu xanh, kính chắn gió trong suốt, phía sau mũ có tem số No 69912; mặt ngoài mũ phía trên kính chắn gió có vết trượt mất sơn, hướng mũ từ trên xuống dưới, dài 0,9cm, rộng 0,2cm.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (07/5/2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Hường |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Văn Vượng - Hoàng Văn Hùng | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tăng Thị Hường |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chống người thi hành công vụ của Ma Văn C đối với các đồng chí Công an xã
