Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 15/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Minh
  • - Thẩm phán: Ông Lê Quang Toại
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nhơn
  • Ông Bùi Trưng
  • Bà Huỳnh Thị Tuyết Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi và Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh Q, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn P; sinh ngày: 06/7/1997 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: H’re; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn G và bà Phạm Thị G1; vợ: Phạm Thị T, con: Có 01 con sinh năm 2017; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 15/7/2021, bị Công an xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”. Bị cáo chưa chấp hành nộp phạt.

Nhân thân: Ngày 27/6/2013, bị Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng. Ngày 30/4/2015 chấp hành xong.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2023 đến nay, bị cáo đang giam; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa: Ông Bùi Phú V – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q; có mặt.

- Bị hại: Ông Phạm Văn K, sinh năm: 1997.

Trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Công T1 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Phạm Văn G, sinh năm: 1974.
  • Trú tại: Thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Ông Phạm Văn K1, sinh năm: 1999.
  • Trú tại: Thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
  • + Ông Phạm Văn G2, sinh năm: 2000.
  • Trú tại: Thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
  • + Ông Phạm Văn T2, sinh năm: 1998.
  • Trú tại: Thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
  • + Ông Phạm Văn R, sinh năm: 1994.
  • Trú tại: Thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
  • + Ông Phạm Văn T3, sinh năm: 2000.
  • Trú tại: Thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Đình H, sinh năm: 1991.
  • Trú tại: Thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

- Người giám định:

  • + Đại úy, BS. Trần Như H1 – Giám định viên pháp y của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng; có mặt.
  • + Đại úy, BS. Hà Thanh T4 – Giám định viên pháp y của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/6/2023, trong lúc Phạm Văn P, Phạm Văn K, Phạm Văn G2 cùng uống rượu với nhau, Phạm Văn K thể hiện mình bằng lời nói vừa đi chấp hành án phạt tù về nên Phạm Văn P bực tức dùng một con dao thái lan đòi đâm Phạm Văn K thì được Phạm Văn G2 ngăn cản nên Phạm Văn P không gây thương tích được cho Phạm Văn K. Sau khi uống rượu xong, Phạm Văn P mang con dao về nhà cất giấu.

Chiều tối ngày 16/6/2023, Phạm Văn P, Phạm Văn K, Phạm Văn G2, Phạm Văn T2, Phạm Văn T3, Phạm Văn K1, Phạm Văn R đến tham gia và ngồi uống rượu ở trại đám cưới khu vực sân nhà ông Phạm Văn X ở thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Quá trình uống rượu, Phạm Văn K hút thuốc lá thì bị Phạm Văn G2 giật điếu thuốc trên môi nên Phạm Văn K bực tức nói với Phạm Văn G2: “Mày tin không? Tao chấp hai thằng như mày”. Phạm Văn G2 và Phạm Văn P có quan hệ bà con với nhau nên khi nghe Phạm Văn K nói như vậy với Phạm Văn G2 thì Phạm Văn P bực mình, nghĩ rằng Phạm Văn K là người ở địa phương khác đến mà láo với anh em trong xóm, nên Phạm Văn P đi bộ về nhà ở gần đó lấy 01 con dao Thái Lan (Là con dao Phạm Văn P định đâm Phạm Văn K vào ngày 15/6/2023) giấu vào trong quần rồi quay lại bàn tiếp tục ngồi uống rượu. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, thấy Phạm Văn K tiếp tục có lời nói, cử chỉ trêu chọc Phạm Văn G2 nên Phạm Văn P rút con dao từ trong lưng quần ra, cầm dao bằng tay phải đâm nhiều cái vào phần hông bên phải của Phạm Văn K, thấy vậy Phạm Văn R và Phạm Văn T2 can ngăn Phạm Văn P và đẩy Phạm Văn K ra làm Phạm Văn K ngã xuống đất; Phạm Văn K đứng dậy bỏ chạy thì vừa lúc này Phạm Văn P đứng dậy cầm dao ở tay phải chồm người về phía trước và giơ dao lên cao đâm theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào phần lưng bên phải của Phạm Văn K 01 (Một) nhát; Phạm Văn P rút dao ra tiếp tục đâm thì Phạm Văn K bỏ chạy và cầm 01 cái ghế nhựa màu đỏ giơ lên để chống trả lại nên Phạm Văn P không đâm được nữa, Phạm Văn P bỏ đi đến bụi cây bên ngoài trại đám cưới, cách bàn tròn ngồi trước đó khoảng 20m để đợi Phạm Văn K ra về sẽ tiếp tục dùng dao đâm Phạm Văn K.

Sau khi bị Phạm Văn P đâm vào lưng và tay phải chảy máu thì Phạm Văn K cởi áo, đi bộ hướng về nhà; khi vừa đi ra khỏi trại đám cưới được vài bước thì Phạm Văn P từ trong bụi cây cầm dao chạy ra đuổi Phạm Văn K nhưng Phạm Văn P bị vấp ngã, nên Phạm Văn K chạy lại vào trong trại đám cưới trốn. Lúc này, vết thương bị chảy nhiều máu, Phạm Văn K không đi được nữa nên ngồi xuống dựa lưng vào chân trụ che trại đám cưới và được người dân xung quanh sơ cứu cầm máu vết thương. Thấy vậy, Phạm Văn P tiếp tục cầm dao đi đến chỗ Phạm Văn Khinh nhằm mục đích tiếp tục đâm Phạm Văn K, nhưng do có nhiều người can ngăn nên Phạm Văn P bỏ đi và vứt con dao gần ruộng lúa cách nhà ông Phạm Văn X khoảng 14m.

Ngay sau đó, Công an xã B nhận được tin báo về sự việc nên đến hiện trường kiểm tra xác minh sơ bộ, đưa Phạm Văn K đi cấp cứu đồng thời chuyển nguồn tin về tội phạm trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1218/KL-KTHS ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Văn K như sau:

  • - Vết thương vùng lưng phải: 01% (Nguyên tắc 4 và Mục I.1 - Chương 8)
  • - Vết thương cánh tay phải: 01% (Nguyên tắc 4 và Mục I.1- Chương 8).
  • - Vết mổ đường trắng giữa trên rốn: 02 % (Nguyên tắc 3 và Mục I.2 - Chương 8).
  • - Vết dẫn lưu vùng ngực bên phải: 01% (Nguyên tắc 3 và Mục I.1 - Chương 8).
  • - Vết dẫn lưu vùng hạ sườn phải: 01% (Nguyên tắc 3 và Mục I.1 - Chương 8).
  • - Tổn thương màng phổi phải: 03% (Mục III.1 - Chương 3).
  • - Vết thương nhu mô thùy dưới phổi phải, không phẫu thuật: 06% (Mục IV.1- Chương 3).
  • - Tổn thương cơ hoành không phải can thiệp phẫu thuật: 03% (Mục VI.1- Chương 3).
  • - Khâu vết thương gan hạ phân thùy VII: 31% (Mục VII.2.1 - Chương 4).

Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn K tại thời điểm giám định là 43% (Bốn mươi ba phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương của Phạm Văn K do vật sắc nhọn gây nên.

Tại Kết luận giám định số 1283/KL-KTHS ngày 05/7/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Trên con dao và trong các chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường xảy ra vụ việc ở các vị trí ký hiệu số 2, số C, số 4, số 7 có máu của Phạm Văn K.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSQNG-P1 ngày 30/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Phạm Văn P về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 38. Xử phạt bị cáo Phạm Văn P từ 09 năm đến 10 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Phạm Văn P đã khắc phục chi phí điều trị thương tích cho Phạm Văn K với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); Phạm Văn K đã viết đơn bãi nại, không yêu cầu gì khác về phần dân sự trong vụ án nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy.

  • - Phần còn lại chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường xảy ra vụ việc ở các vị trí ký hiệu số 02,03,04,07 sau giám định;
  • - 01 con dao dài 21,4cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11,5cm, mũi nhọn, một cạnh sắc, phần rộng nhất của lưỡi 1,7cm, trên có chữ: “KIWI-BRAND” và “MADE IN THAILAND”; cán dao bằng nhựa màu vàng, dài 9,9cm, phần rộng nhất của cán 1,8cm, trên có chữ “KIWI”.

Toàn bộ mẫu vật được dựng trong một phong bì dán kín, tại phần mép dán có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký của Lê Văn Đ, Nguyễn Thành Q.

  • - 01 ghế nhựa màu đỏ, loại ghế đẩu, nhãn hiệu “Đại Đồng Tiến”.
  • - 01 chiếc dép nhựa màu đen có kích thước (15x09)cm.
  • - 01 chiếc dép nhựa màu vàng có kích thước (16x09)cm.

Ý kiến người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Thống nhất với cáo trạng truy tố bị cáo Phạm Văn P về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội một phần xuất phát từ việc người bị hại có lời lẽ, hành động thách thức, trêu chọc đối với anh Phạm Văn G2, là họ hàng của bị cáo, làm bị cáo bực tức mới thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặc dù hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, có con nhỏ, nhưng bị cáo vẫn cố gắng tác động gia đình bồi thường cho người bị hại và được người bị hại bãi nại về phần dân sự. Ngoài ra, bị cáo phạm tội chưa đạt nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt liền kề, xử phạt bị cáo 07 năm tù.

Ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tại phiên tòa: Cáo trạng truy tố bị cáo Phạm Văn P về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về phần hình sự, hành vi của bị cáo là hung hãn, côn đồ, xem thường pháp luật, xem thường tính mạng của con người, nên đề nghị xử phạt bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Về phần dân sự, bị hại đã có đơn bãi nại nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[II] Về nội dung:

[1] Về hành vi của bị cáo Phạm Văn P:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 16/6/2023, tại trại đám cưới nhà ông Phạm Văn X ở thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, khi nhìn thấy anh Phạm Văn K có lời lẽ và hành động trêu chọc anh Phạm Văn G2, bị cáo Phạm Văn P đã dùng 01 con dao Thái Lan đâm liên tiếp nhiều cái vào vùng hông phải của anh Phạm Văn K gây thương tích thì được mọi người can ngăn, khi mọi người tách bị cáo Phạm Văn P và anh Phạm Văn K ra, bị cáo Phạm Văn P tiếp tục vươn người tới phía trước dùng dao đâm trúng 01 cái vào lưng phải của anh Phạm Văn K. Sau đó, anh Phạm Văn K bỏ chạy trốn nên bị cáo Phạm Văn P ra bên ngoài trại cưới ngồi chờ sẵn khi nào anh Phạm Văn K ra về thì tiếp tục đâm anh Phạm Văn K. Khi anh Phạm Văn K vừa ra khỏi trại đám cưới, bị cáo Phạm Văn P xông ra đuổi theo đâm anh Phạm Văn K nhưng bị cáo bị vấp ngã nên anh Phạm Văn K chạy trốn được vào bên trong trại cưới. Anh Phạm Văn K bị thương nặng, chảy nhiều máu nên ngồi trốn một chỗ và được mọi người sơ cứu thì bị cáo Phạm Văn P tiếp tục cầm dao xông đến định đâm anh Phạm Văn K, nhưng do nhiều người can ngăn nên Phạm Văn P không đâm được và bỏ đi. Hậu quả anh Phạm Văn K bị đâm gây thương tích 43%.

[2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng hông, lưng là vùng trọng yếu và nhiều vùng khác trên cơ thể có khả năng dẫn đến chết người, nhưng chỉ vì nhìn thấy anh Phạm Văn K có lời lẽ, cử chỉ trêu ghẹo anh Phạm Văn G2, mặc dù không liên quan gì đến bị cáo, bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội và bỏ mặc hậu quả xảy ra. Việc người bị hại không chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự côn đồ, hung hãn, xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Phạm Văn P về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại và được người bị hại bãi nại về phần dân sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, hạn chế về khả năng nhận thức pháp luật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng cho bị cáo.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Mặc dù được nhiều người can ngăn nhưng bị cáo vẫn cố thoát ra để đâm thương tích anh Phạm Văn K, đến khi anh Phạm Văn K bị thương nặng và mọi người ngăn cản không cho bị cáo có thể đâm anh Phạm Văn K được nữa thì bị cáo mới bỏ đi. Hành vi của bị cáo là “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 27/6/2013, bị Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng. Ngày 15/7/2021, bị Công an xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”, bị cáo chưa nộp phạt. Mặc dù bị đưa vào trường G3, bị xử phạt hành chính nhiều lần nhưng bị cáo không biết ăn năn hối lỗi, tu dưỡng trở thành công dân tốt mà tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo, do đó cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Trong vụ án này, hậu quả chết người chưa xảy ra nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự về “Phạm tội chưa đạt” cho bị cáo.

[5] Về dân sự: Gia đình bị cáo Phạm Văn P và người bị hại đã bồi thường, thỏa thuận xong, bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là công cụ phạm tội hoặc không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy gồm:

  • - Phần còn lại chất màu nâu đỏ khi thu tại hiện trường xảy ra vụ việc ở các vị trí ký hiệu số 02, 03, 04, 07 sau giám định;
  • - 01 con dao dài 21,4cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11,5cm, mũi nhọn, một cạnh sắc, phần rộng nhất của lưỡi 1,7cm, trên có chữ: “KIWI-BRAND” và “MADE IN THAILAND”; cán dao bằng nhựa màu vàng, dài 9,9cm, phần rộng nhất của cán 1,8cm, trên có chữ “KIWI”.

Toàn bộ mẫu vật được dựng trong một phong bì dán kín, tại phần mép dán có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký của Lê Văn Đ, Nguyễn Thành Q.

  • - 01 ghế nhựa màu đỏ, loại ghế đẩu, nhãn hiệu “Đại Đồng Tiến”.
  • - 01 chiếc dép nhựa màu đen có kích thước 15x09cm.
  • - 01 chiếc dép nhựa màu vàng có kích thước 16x09cm.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2024 giữa Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).

[7] Đối với ông Phạm Văn G: Là cha đẻ của bị cáo, đã thay bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 1.000.000 đồng, ông không yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

[10] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn P 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 18/6/2023).

[2] Về phần dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho người bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; tịch thu tiêu hủy:

  • - Phần còn lại chất màu nâu đỏ khi thu tại hiện trường xảy ra vụ việc ở các vị trí ký hiệu số 02, 03, 04, 07 sau giám định;
  • - 01 con dao dài 21,4cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11,5cm, mũi nhọn, một cạnh sắc, phần rộng nhất của lưỡi 1,7cm, trên có chữ: “KIWI-BRAND” và “MADE IN THAILAND”; cán dao bằng nhựa màu vàng, dài 9,9cm, phần rộng nhất của cán 1,8cm, trên có chữ “KIWI”.

Toàn bộ mẫu vật được dựng trong một phong bì dán kín, tại phần mép dán có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký của Lê Văn Đ, Nguyễn Thành Q.

  • - 01 ghế nhựa màu đỏ, loại ghế đẩu, nhãn hiệu “Đại Đồng Tiến”.
  • - 01 chiếc dép nhựa màu đen có kích thước 15x09cm.
  • - 01 chiếc dép nhựa màu vàng có kích thước 16x09cm.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2024 giữa Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).

[4] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Phòng PC01 CA tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Phan Ngọc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự sơ thẩm về tội giết người

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Phiết dùng dao đâm bị hại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger