|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 42/2024/HS-ST Ngày 09/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Định và bà Lý Thị Nhân
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như N - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại Phòng xét xử Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Vũ Việt T, sinh ngày 26/11/1998.
Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
Nghề nghiệp: Nhân viên Phòng khám Đ (đã nghỉ việc).
Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Là Đảng viên Đ1, sinh hoạt tại Chi bộ 5, trực thuộc Đảng bộ phường T, thành phố T. Hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 115-QĐ-UBKT ngày 10/4/2024 của Ủy ban Kiểm tra Thành ủy T3.
Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Vũ Việt H, sinh năm 1964 và bà Bùi Thị Thu H1, sinh năm 1974; vợ: Vũ Nhật L, sinh năm 1993; con: Có 01 con sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ dân phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Chị Nguyễn Thị Vân T1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- 2. Chị Lâm Thị Thu P, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn A, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2021 đến năm 2023, tại thành phố T, Vũ Việt T, cư trú tại tổ dân phố E, phường T, thành phố T sử dụng 50.000.000 đồng ban đầu để quay vòng cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao từ 10.000 đồng đến 38.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương mức lãi suất từ 365% đến 1387%/năm, gấp từ 18,25 lần đến 69,35 lần mức lãi suất cho phép theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/01 năm), mục đích để thu lợi nhuận, cụ thể như sau:
1. Cho Nguyễn Thị Vân T1, trú tại tổ dân phố D, phường H, thành phố T vay 02 lần:
Lần 1: Ngày 09/7/2021, T cho chị T1 vay 30.000.000 đồng, lãi suất 30.000 đồng/01triệu/01ngày, tương đương lãi suất 1.095%/năm, gấp 54,75 lần lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự, trả tiền lãi theo ngày là 900.000 đồng/ngày. Đến ngày 06/8/2021, T1 trả tiền lãi 28 ngày cho T là 25.200.000 đồng; trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 460.274 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 24.729.736 đồng, T1 trả toàn bộ 30.000.000 đồng tiền gốc cho T.
Lần 2: Ngày 10/8/2021, T cho chị T1 vay 50.000.000 đồng, lãi suất 38.000 đồng/01triệu/01ngày, tương đương lãi suất 1.387%/năm, gấp 69,35 lần lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự, trả tiền lãi theo ngày là 1.900.000 đồng/ngày. Đến ngày 01/9/2021, T1 trả tiền lãi 23 ngày cho T là 43.700.000 đồng tiền lãi; trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 630.137 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 43.069.863 đồng, T1 trả toàn bộ 50.000.000 đồng tiền gốc cho T.
Như vậy, tổng số tiền T cho T1 vay 02 lần là 80.000.000 đồng. Số tiền lãi theo thỏa thuận T1 phải trả cho T là 68.900.000 đồng, trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 1.090.411 đồng, số tiền thu lời bất chính là 67.809.589 đồng. T1 đã trả đủ 80.000.000 đồng tiền gốc.
2. Cho Lâm Thị Thu P, trú tại thôn A, xã K, thành phố T vay 02 lần:
Từ ngày 12/8/2023 đến ngày 01/11/2023, Vũ Việt T cho chị P vay tiền với lãi suất 10.000 đồng/01 triệu/01ngày, tương đương lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự, thời hạn vay là 40 ngày, mỗi ngày phải trả một khoản tiền gốc và tiền lãi cố định, cụ thể:
Lần 1: Ngày 12/8/2023, T cho chị P vay 40.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả 1.400.000 đồng. Từ ngày 12/8/2023 đến ngày 21/9/2023, P trả cho T 56.000.000 đồng, gồm 40.000.000 đồng tiền gốc và 16.000.000 đồng tiền lãi; trong đó, tiền lãi hợp pháp là 876.712 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 15.123.288 đồng.
Lần 2: Ngày 22/9/2023, T cho chị P vay 40.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả 1.400.000 đồng. Từ ngày 22/9/2023 đến ngày 01/11/2023, theo thỏa thuận, P phải trả cho T 56.000.000 đồng, gồm 40.000.000 đồng tiền gốc và 16.000.000 đồng tiền lãi; trong đó, tiền lãi hợp pháp là 876.712 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 15.123.288 đồng. Do có tiền trả trước nên đến ngày 12/10/2023, P đã trả đủ cho T toàn bộ số tiền trên.
Tổng số tiền T cho P vay 02 lần là 80.000.000 đồng. Số tiền lãi theo thỏa thuận P phải trả cho T là 32.000.000 đồng, trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 1.753.425 đồng, số tiền thu lời bất chính là 30.246.575 đồng. T1 trả đủ 80.000.000 đồng tiền gốc.
Như vậy, từ ngày 09/7/2021 đến ngày 01/11/2023, Vũ Việt T sử dụng 50.000.000 đồng tiền gốc ban đầu quay vòng cho 02 người vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với tổng số tiền là 160.000.000 đồng, thu tổng số tiền lãi là 100.900.000 đồng, trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 2.843.836 đồng, số tiền thu lời bất chính là 98.056.164 đồng. Người vay đã trả toàn bộ số tiền gốc và lãi cho T.
Vật chứng: Ngày 13/10/2023, Cơ quan điều tra thu giữ của Vũ Việt T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax vỏ màu xanh dương, bên trong gắn 01 thẻ sim có dãy số 8984048008824689856, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Vân T1 yêu cầu Vũ Việt T trả lại số tiền thu lợi bất chính đã thu 67.809.589 đồng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lâm Thị Thu P không yêu cầu, đề nghị về dân sự.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra yêu cầu Vũ Việt T nộp số tiền gốc sử dụng để cho vay, tiền lãi thu về, hiện bị cáo chưa thực hiện.
Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSTP, ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố Vũ Việt T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Việt T tiếp tục khai nhận hành vi cho người khác vay tiền với mức lãi nặng trong giao dịch dân sự của mình với mục đích thu lời bất chính. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố bị cáo là đúng tội, không oan.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự bị cáo T có ý kiến: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lâm Thị Thu P không đề nghị bị cáo hoàn trả lại tiền lãi vượt quá quy định nên bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Vân T1 yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền thu lợi bất chính đã thu 67.809.589 đồng, bị cáo nhất trí sẽ thu xếp để trả cho chị T1 theo đúng quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Vân T1 và chị Lâm Thị Thu P trong quá trình điều tra đều xác nhận các khoản tiền vay; lãi suất vay; khoản tiền gốc, tiền lãi đã trả cho bị cáo Vũ Việt T đúng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa. Về trách nhiệm dân sự chị P không yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả lại số tiền lãi suất vượt quá quy định của Bộ luật Dân sự; chị T1 yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền thu lợi bất chính đã thu là của chị là 67.809.589 đồng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Việt T và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
- - Tuyên bố: Bị cáo Vũ Việt T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- - Xử phạt: Bị cáo Vũ Việt T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Phạt tiền bị cáo Vũ Việt T từ 60.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng.
- Giao bị cáo cho UBND nơi cư trú theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo tại địa phương.
- - Về trách nhiệm dân sự: Chị Lâm Thị Thu P không đề nghị gì về phần dân sự nên không đề cập xử lý. Đối với chị Nguyễn Thị Vân T1, trong quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt đều yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền thu lợi bất chính đã thu là 67.809.589 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Vân T1 số tiền 67.809.589 đồng đã thu lợi bất chính từ hành vi cho vay lãi nặng. Bị cáo Vũ Việt T đã nộp số tiền 20.000.000 đồng theo Biên lai tạm thu số 000243 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Tại phiên toà bị cáo T đề nghị chuyển số tiền 20.000.000₫ bị cáo đã nộp để trả lại cho chị Nguyễn Thị Vân T1. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đối trừ vào số tiền bị cáo Vũ Việt T phải hoàn tra lại cho chị T1.
- - Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Truy thu để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền gốc 50.000.000 đồng bị cáo Vũ Việt T dùng vào việc phạm tội.
- + Truy thu đối với bị cáo Vũ Việt T số tiền lãi hợp pháp tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự là 2.843.836 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Như vậy, tổng số tiền đề nghị Hội đồng xét xử truy thu đối với bị cáo Vũ Việt T để sung vào ngân sách Nhà nước là: 52.843.836 đồng,
- + Trả lại cho bị cáo Vũ Việt T 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax vỏ màu xanh dương, bên trong gắn 01 thẻ sim, đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Việt T không có ý kiến tranh luận gì với nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Việt T tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản khám xét, tài liệu, vật chứng thu giữ; sao kê tài khoản tại ngân hàng; lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 09/7/2021 đến ngày 01/11/2023, tại thành phố T, Vũ Việt T, cư trú tại tổ dân phố E, phường T, thành phố T sử dụng số tiền 50.000.000 đồng tiền gốc ban đầu để quay vòng cho 02 người vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với tổng số tiền là 160.000.000 đồng, với lãi suất từ 10.000 đồng đến 38.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương mức lãi suất từ 365% đến 1.387%/năm, gấp từ 18,25 lần đến 69,35 lần mức lãi suất cho phép quy định của Bộ luật Dân sự (là 20%/01 năm). T2 tổng số tiền lãi là 100.900.000 đồng, trong đó: số tiền lãi hợp pháp 2.843.836 đồng, số tiền lãi thu trái pháp luật là 98.056.164 đồng; người vay đã trả toàn bộ số tiền vay gốc và lãi cho T.
Tổng số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo Vũ Việt T là 98.056.164 đồng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo đã có hành vi cho người khác vay tiền với thỏa thuận lãi suất cao gấp hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất được Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng (nhưng chưa đến 100.000.000 đồng); hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của Nhà nước. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo Vũ Việt T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Việt T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được áp dụng tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại giai đoạn truy tố, bị cáo đã nộp số tiền 20.000.000 đồng theo Biên lai tạm thu số 000243 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang để hoàn trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận và áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự trong khi lượng hình.
[4] Về vai trò của bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo Vũ Việt T một mình thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của mình đã gây ra.
[5] Về quyết định hình phạt: Xét về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án Cải tạo không giam giữ và hình phạt bổ sung (phạt tiền) là phù hợp để đảm bảo tính răn đe và giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về mức án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp, có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ quy định tại điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[6] Về việc khấu trừ thu nhập: Xét thấy bị cáo hiện đã nghỉ việc tại Phòng khám Đ, hiện đang không có nguồn thu nhập ổn định nên không xem xét khấu trừ thu nhập của bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 98.056.164 đồng mà bị cáo Vũ Việt T đã thu của chị Nguyễn Thị Vân T1 và chị Lâm Thị Thu P vượt quá lãi suất tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự thì cần buộc bị cáo phải trả lại cho chủ sử hữu hợp pháp. Tuy nhiên, do chị Lâm Thị Thu P không có yêu cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với số tiền 67.809.589 đồng mà bị cáo đã thu lợi bất chính của chị Nguyễn Thị Vân T1, chị T1 yêu cầu bị cáo phải hoàn trả. Do đó, buộc bị cáo có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị Vân T1 số tiền 67.809.589 đồng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà bị cáo T đề nghị chuyển số tiền 20.000.000₫ bị cáo đã nộp theo Biên lai tạm thu số 000243 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang để trả lại cho chị Nguyễn Thị Vân T1. Do đó bị cáo còn phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho Nguyễn Thị Vân T1 số tiền 47.809.589 đồng
[8] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- + Đối với số tiền gốc 50.000.000 đồng mà bị cáo Vũ Việt T dùng để quay vòng cho 02 người vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Xét đây là số tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần truy thu để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- + Đối với số tiền lãi 2.843.836 đồng không vượt quá mức lãi suất tối đa quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự mà bị cáo T đã thu của chị T1 và chị P. Xét đây là số tiền bị cáo thu lợi từ việc phạm tội mà có nên cần truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, tổng số tiền Hội đồng xét xử truy thu đối với bị cáo Vũ Việt T để sung vào ngân sách Nhà nước là: 52.843.836 đồng.
- + Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax vỏ màu xanh dương, bên trong gắn 01 thẻ sim đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra, xét thấy vật chứng trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này nên cần trả lại cho bị cáo.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Việt T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Việt T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Việt T 02 (hai) năm Cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an thành phố T nhận được quyết định thi hành án. Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.
Giao bị cáo Vũ Việt T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Phạt tiền bị cáo Vũ Việt T: 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Truy thu của bị cáo Vũ Việt T để sung vào ngân sách Nhà nước số tiền gốc 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) dùng vào việc phạm tội và số tiền lãi hợp pháp tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự là 2.843.836 đồng (Hai triệu, tám trăm bốn mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi sáu đồng). Tổng số tiền cần truy thu đối với bị cáo là: 52.843.836 đồng, làm tròn là 52.844.000đ (Năm mươi hai triệu, tám trăm bốn mươi tư nghìn đồng).
+ Trả lại cho bị cáo Vũ Việt T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax vỏ màu xanh dương, bên trong gắn 01 thẻ sim có dãy số 8984048008824689856, đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 16/4/2024).
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Vũ Việt T phải trả cho chị Nguyễn Thị Vân T1 số tiền 67.809.589 đồng (Sáu mươi bảy triệu, tám trăm linh chín nghìn, năm trăm tám mươi chín đồng). Ghi nhận bị cáo Vũ Việt T đã nộp số tiền 20.000.000 đồng theo Biên lai tạm thu số 000243 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang để trả lại cho chị Nguyễn Thị Vân T1. Bị cáo còn phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho Nguyễn Thị Vân T1 số tiền 47.809.589 đ làm tròn là 47.810.000₫ (Bốn mươi bảy triệu tám trăm mươi nghìn đồng).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Vũ Việt T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Việt T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình của bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Đinh Công Định |
Vương Minh Tân |
Phạm Ngọc H2 |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
