Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN KỲ

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 9/5/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Vân Anh; Nơi công tác: Trường THPT Tân Kỳ, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.

Bà: Vũ Thị Thanh Hương; Nơi công tác: Ban dân vận - Huyện ủy Tân Kỳ.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Bình - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ làm thư ký

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: Ông Trương Thành Công - Kiểm sát viên.

Trong ngày 9 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/HSST, ngày 16/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn Quốc V, tên gọi khác: Không; sinh ngày 19 tháng 3 năm 2006 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Học sinh; chức vụ trước khi phạm tội: Không; giới tính Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông: Hà Văn Đ, sinh năm 1981 và bà: Lữ Thị N, sinh năm 1982; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Hà Văn Quốc V1 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/3/2024 đến ngày 04/5/2024; có mặt.

Bị hại: Anh Lô Văn H, sinh ngày: 04/02/2006; ủy quyền tham gia tố tụng cho bà: Lê Thị T, sinh năm: 1983 (là mẹ đẻ của H); đều trú tại: xóm Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/01/2024, bị cáo Hà Văn Quốc V đến nhà Lô Văn H là bạn cùng xóm chơi. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, V, H và cháu Lô Văn H1 (sinh năm 2013 em trai H) cùng nằm chơi điện thoại trong phòng ngủ của cháu H, sau đó cháu H1 đi ngủ còn H và V vẫn tiếp tục sử dụng điện thoại. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H đi ngủ, để lại chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh của mình trên bụng, lợi dụng H và cháu H1 ngủ say, bị cáo V đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại Iphone 11, màu xanh của H rồi cất dấu vào trong túi áo nhanh chóng ra về, mục đích lấy trộm chiếc điện thoại là để sử dụng. Khi về đến nhà bị cáo V đã tháo thẻ sim ở trong điện thoại ra, đi vào phòng ngủ xóa hết dữ liệu trong điện thoại, cất dấu chiếc điện thoại vào trong chiếc cũi của gia đình rồi đi ngủ.

Đến khoảng 06 giờ ngày 30/01/2024, H thức dậy không thấy điện thoại đâu và cũng không thấy V ở nhà mình nữa, H tìm kiếm điện thoại không được, xác định kẻ gian đã trộm cắp chiếc điện thoại của mình nên đã đến Công an xã N trình báo sự việc.

Ngày 31/01/2024 Công xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An đã mời Hà Văn Quốc V lên làm việc, tại Cơ quan Công an xã N, H đã thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 11, màu xanh của Lô Văn H vào đêm 29/01/2024 và đưa Công an về nhà thu giữ chiếc điện thoại, một chiếc ốp nhựa điện thoại.

Ngày 16/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đã có công văn số 332/YC-CSĐT yêu cầu định giá chiếc điện thoại và chiếc ốp nhựa trên đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 10/UBND –HDĐG ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An kết luận: “Tại thời điểm ngày 29/01/2024, giá trị của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số loại 11, màu xanh, đã qua sử dụng, hiện còn 60% giá trị so với giá trị chiếc điện thoại Iphone 11 màu xanh mới là 6.180.000 đồng (sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng). Giá trị 01 (một) chiếc ốp điện thoại Iphone 11, trong suốt, màu trắng là 30.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 40/CT-VKS-TK ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ đã truy tố bị cáo Hà Văn Quốc V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt Hà Văn Quốc V mức án từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị hại Lô Văn H không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người được ủy quyền của bị hại, tại phiên tòa không có yêu cầu gì thêm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo có lời nói sau cùng rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tại phiên tòa bị cáo, người được ủy quyền của bị hại, không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Hà Văn Quốc V đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, bị cáo Hà Văn Quốc V, đến nhà anh Lô Văn H, trú tại ở xóm Đ, Đ xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An chơi, lợi dụng Lô Văn H ngủ say, đã lén lút trộm cắp một 01(một) chiêc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, có ốp nhựa màu trắng, số SERI: C6KCPE6NN72P, số EMEI 1: 352908113918948, số EMEI 2: 352908113907115, trị giá 6.210.000 đồng (Sáu triệu hai trăm mười nghìn đồng) đưa về cất dấu trong chiếc cũi của gia đình nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác với tổng giá trị tài sản là 6.210.000 đồng (Sáu triệu hai trăm mười nghìn đồng) của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng do động cơ chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã cố ý phạm tội, lợi dụng sự sơ hở của người chủ sở hữu tài sản rồi lén lút lấy trộm tài sản. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức còn bồng bột, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, trị an xã hội. Để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật áp dụng Điều 91; Điều 36 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ nghiêm. Bị cáo đang là học sinh nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị hại anh Lô Văn H không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[10] Về án phí: Bị cáo Hà Văn Quốc V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn Q Vượng 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Giao bị cáo Hà Văn Quốc V cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An, giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người được ủy quyền của bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Công an huyện Tân Kỳ;
  • - VKSND huyện Tân Kỳ;
  • - Chi cục THADS Tân Kỳ;
  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - Người có QL&NVLQ;
  • - UBND xã Nghĩa Dũng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Vân Anh Vũ Thị Thanh Hương

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 09/05/2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger