TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 07 - 06 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khiêm
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Trần Ánh Hồng
- Bà: Nguyễn Thị Thu Hà
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông: Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 06 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/HSST - TL ngày 20 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Mạnh T sinh ngày 16 tháng 07 năm 1990 tại huyện L, tỉnh Hòa Bình. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thế B, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; có vợ là Bùi Kiều T1 và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019;
Tiền án: không, Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2024 đến ngày 29/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Hoà Bình
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 1/Chị Bùi Thị T2, sinh năm 1988. HKTT: Khu B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xin xét xử vắng mặt
- 2/Anh Bùi Đình Đ, sinh năm 1996. HKTT: Thôn Y, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
- Người làm chứng:
- 1/Chị Bùi Thị L1, sinh năm 2007. HKTT: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, không lý do
- 2/Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964. HKTT: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Trần Mạnh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố về hành phạm tội như sau:
Vào ngày 15/01/2024, chị Bùi Thị T2, sinh năm 1988, HKTT: khu B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình có nhờ Bùi Đình Đ, sinh năm 1996, HKTT: thôn Y, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình tìm mua pháo với mục đích để sử dụng và đưa cho Đ số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng). Bùi Đình Đ biết anh rể là Trần Mạnh T, sinh năm 1990, HKTT: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình có pháo tự chế nên đã liên hệ với T để mua 25 quả pháo với giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng), sau khi mua được pháo Đài mang về nhà để cất giấu.
Khoảng 15 giờ ngày 23/01/2024, chị Bùi Thị T2 gọi điện thoại nhờ Bùi Thị L1, sinh năm 2007, HKTT: thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình đến nhà Bùi Đình Đ tại thôn Y, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình để lấy đồ hộ cho chị T2 (chị T2 không nói với L1 là lấy đồ gì). Sau đó, Bùi Thị L1 điều khiển xe mô tô BKS 28B1-382.64 từ thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình vào nhà Bùi Đình Đ. Khi đến nơi, Đ lấy 01 (một) túi nilon màu đen đưa cho L1 và bảo L1 cầm về cho chị T2 (Đ không nói trong túi nilon có gì), L1 nhận túi và ra về. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, khi Bùi Thị L1 đi đến đoạn trường tiểu học V thuộc thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì bị tổ công tác Công an huyện L yêu cầu dùng xe và tiến hành kiểm tra 01 (một) túi nilon màu đen mà L1 vừa lấy từ nhà của Bùi Đình Đ đang treo tại gì đông của xe mô tô BKS 28B1-382.64. Kiểm tra túi nilon màu đen, tổ công tác phát hiện bên trong có 25 (hai mươi lăm) khối trụ có gắn dây (nghi là pháo tự chế), tổ công tác đã lập biên bản để làm căn cứ giải quyết vụ việc theo quy định và đưa các đối tượng về trụ sở Công an xã T để làm việc.
Quá trình điều tra đã xác định được như sau: từ khoảng tháng 10 năm 2023, Trần Mạnh T, sinh năm 1990, HKTT: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình lên mạng xã hội để xem cách chế tạo pháo, sau đó đã đặt mua trên mạng xã hội Facebook các hóa chất gồm: Lưu huỳnh, Natri B1, bột than, Kali C và dây cháy chậm, keo 502. Sau khi đặt mua được các hóa chất, T dùng giấy học sinh để quấn vỏ pháo, nhồi thuốc và dây cháy chậm, đỗ keo và hoàn thành quả pháo với các kích thước khác nhau. Tổng số pháo T đã sản xuất được là 432 (bốn trăm ba mươi hai quả). Sau khi chế tạo xong, đến ngày 15/01/2024, T bán cho Bùi Đình Đ, sinh năm 1996, HKTT: thôn Y, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình 25 quả pháo có kích thước khác nhau với giá là 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng). Đến ngày 17/01/2024, mẹ đẻ của Trần Mạnh T là bà Nguyễn Thị L phát hiện số pháo Thường sản xuất được cất giấu tại căn bếp của gia đình, bà đã chửi mắng, ngăn cấm, yêu cầu T tiêu hủy, sau khi bị mẹ ngăn cấm T đã mang 384 quả pháo có kích thước khác nhau đào hố chôn xuống đất trong vườn nhà và giữ lại 23 (hai mươi ba) quả với mục đích để sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 646/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của V1 - Bộ C1 kết luận:
- + 23 (hai mươi ba) quả pháo có kích thước khác nhau do Trần Mạnh T giao nộp đều là pháo nổ. Tổng khối lượng pháo nổ là 3,51kg (ba phẩy năm mươi mốt kilogam);
- + 384 (ba trăm tám mươi tư) quả kích thước khác nhau do Trần Mạnh T giao nộp đều là pháo nổ. Tổng khối lượng pháo nổ là 13,305kg (mười ba phẩy ba trăm linh năm kilogam);
- + 25 (hai mươi lăm) quả có kích thước khác nhau thu giữ của Bùi Thị L1 đều là pháo nổ, tổng khối lượng pháo nổ là 2,85kg (hai phẩy tám mươi lăm kilogam);
- + Chất bột màu vàng chứa trong 01 (một) hộp nhựa màu hồng gửi giám định là Lưu huỳnh (S), có khối lượng 0,55kg (Không phẩy năm mươi lăm kilogam);
- + Chất bột màu đen chứa trong 01 (một) hộp gửi giám định là bột than (C), có khối lượng là 0,05kg (không phẩy không năm kilogam);
- + Chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) hộp nhựa màu trắng gửi giám định là Kali Clorat (KCLO3), có khối lượng là 0,5kg (không phẩy năm kilogam);
- + Chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) hộp nhựa màu hồng gửi giám định là Natri B1 (C6H5COONa), có khối lượng là 0,3kg (không phẩy ba kilogam);
- + Dây dẫn màu xanh chứa trong 01 (một) hộp gửi giám định là dây ngòi pháo, có khối lượng 0,02kg (không phẩy không hai kilogam).
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chúng
- - 23 (hai mươi ba) quả pháo tự chế có kích thước khác nhau, tình trạng khô, đã nhồi thuốc và dây cháy chậm;
- - 25 (hai mươi lăm) quả pháo tự chế có kích thước khác nhau, tình trạng khô, đã nhồi thuốc và dây cháy chậm;
- - 384 (ba trăm tám mươi tư) quả pháo tự chế có kích thước khác nhau, tình trạng ẩm, đã nhồi thuốc và dây cháy chậm;
- - 01 (một) hộp nhựa hình trụ, đường kính 11cm, chiều cao 12cm, bên ngoài dán chữ Na, bên trong có chứa chất bột màu trắng;
- - 01 (một) hộp nhựa hình trụ, đường kính 12cm, chiều cao 12cm, bên ngoài dán chữ “KCL”, bên trong chứa chất bột màu trắng;
- - 01 (một) hộp nhựa, đường kính nắp 9cm, chiều cao 8cm, bên ngoài dán chữ “THAN”, bên trong chứa chất bột màu đen;
- - 01 (một) hộp nhựa hình trụ, đường kính 9cm, chiều cao 13,5cm, bên ngoài dán chữ “DÂY CHÁY CHẬM”, bên trong chứa cuộn dây màu xanh dài 5,66cm.
Toàn bộ số vật chứng trên Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã trưng cầu giám định, quá trình giám định Cơ quan tiến hành giám định đã sử dụng hết mẫu vật để phục vụ việc giám định.
- - 01 (một) thùng gỗ màu xanh, kích thước dài 52cm, rộng 32cm, cao 18,5cm;
- - 01 (một) lọ nhựa, bên trong có chứa mùn cưa;
- - 01 (một) lọ keo 502 đã qua sử dụng;
- - 01 (một) thước dây màu vàng đen, kích thước 4x4cm đã qua sử dụng;
- - 01 (một) cuộn băng dính màu trắng, khổ 4,5cm, đường kính 10cm;
- - 01 (một) ống nhựa P, đường kính 2,7cm, dài 15cm;
- - 01 (một) thìa kim loại màu trắng, dài 16cm;
- - 01 (một) thìa nhựa màu trắng, dài 12cm.
Số vật chứng trên chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Sơn chờ xử lý theo quy định của pháp luật. Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 05 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện L và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Sơn
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSLS ngày 17/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn để xét xử bị cáo Trần Mạnh T về tội “Sản xuất hang cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố phát biểu luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Mạnh T như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Mạnh Thường phạm t “Sản xuất hàng cấm” áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh Thường từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng
Về vật chứng:
- * Tịch thu tiêu hủy
- - 01 (một) thùng gỗ màu xanh, kích thước dài 52cm, rộng 32cm, cao 18,5cm;
- - 01 (một) lọ nhựa, bên trong có chứa mùn cưa;
- - 01 (một) lọ keo 502 đã qua sử dụng;
- - 01 (một) thước dây màu vàng đen, kích thước 4x4cm đã qua sử dụng;
- - 01 (một) cuộn băng dính màu trắng, khổ 4,5cm, đường kính 10cm;
- - 01 (một) ống nhựa P, đường kính 2,7cm, dài 15cm;
- - 01 (một) thìa kim loại màu trắng, dài 16cm;
- - 01 (một) thìa nhựa màu trắng, dài 12cm.
- * Truy thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng của bị cáo Trần Mạnh T bán pháo cho Bùi Đình Đ do phạm tội mà có
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), những người làm chứng vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt). Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ
[3] Về hành vi phạm tội của Bị cáo
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Mạnh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Từ khoảng tháng 10/2023, tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Trần Mạnh T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã lên mạng xã hội để xem cách chế tạo pháo, sau đó đã đặt mua trên mạng xã hội Facebook các công cụ và vật liệu để sản xuất pháo. Tổng số pháo T đã sản xuất được là 432 (bốn trăm ba mươi hai) quả pháo nổ, có tổng khối lượng là 19,665kg (mười chín phẩy sáu trăm sáu mươi lăm kilogam) gồm: 25 (hai mươi lăm) quả pháo với tổng khối lượng 2,85kg (hai phẩy tám mươi lăm kilogam) T đã bán cho Bùi Đình Đ; 23 (hai mươi ba) quả pháo với tổng khối lượng là 3,51kg (ba phẩy năm mươi mốt kilogam) và 384 (ba trăm tám mươi tư) quả pháo có tổng khối lượng là 13,305kg (mười ba phẩy ba trăm linh năm kilogam) thu giữ tại nhà T. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ngày 23/01/2024, Trần Mạnh T đã đến Cơ quan Công an để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Như vậy, Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS. Do đó, cáo trạng số 41/CT-VKSLS ngày 17/05/2024 truy tố bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
[4] Xét về tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về sản xuất hàng cấm, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về sản xuất hàng cấm, gây mất trật tự, an toàn xã hội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc bằng biện pháp hình sự để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt. Chưa có tiền án, tiền sự.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS 2015
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, tự nguyện ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 BLHS
- - Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. HĐXX nhận thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
[6] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
* Đối với toàn bộ số vật chứng Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã trưng cầu giám định bao gồm:
- - 23 (hai mươi ba) quả pháo tự chế có kích thước khác nhau, tình trạng khô, đã nhồi thuốc và dây cháy chậm;
- - 25 (hai mươi lăm) quả pháo tự chế có kích thước khác nhau, tình trạng khô, đã nhồi thuốc và dây cháy chậm;
- - 384 (ba trăm tám mươi tư) quả pháo tự chế có kích thước khác nhau, tình trạng ẩm, đã nhồi thuốc và dây cháy chậm;
- - 01 (một) hộp nhựa hình trụ, đường kính 11cm, chiều cao 12cm, bên ngoài dán chữ Na, bên trong có chứa chất bột màu trắng;
- - 01 (một) hộp nhựa hình trụ, đường kính 12cm, chiều cao 12cm, bên ngoài dán chữ “KCL”, bên trong chứa chất bột màu trắng;
- - 01 (một) hộp nhựa, đường kính nắp 9cm, chiều cao 8cm, bên ngoài dán chữ “THAN”, bên trong chứa chất bột màu đen;
- - 01 (một) hộp nhựa hình trụ, đường kính 9cm, chiều cao 13,5cm, bên ngoài dán chữ “DÂY CHÁY CHẬM”, bên trong chứa cuộn dây màu xanh dài 5,66cm.
Quá trình giám định Cơ quan tiến hành giám định đã sử dụng hết mẫu vật là các vật chứng nêu trên để phục vụ việc giám định nên HĐXX không xem xét xử lý.
* Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 (một) thùng gỗ màu xanh, kích thước dài 52cm, rộng 32cm, cao 18,5cm;
- - 01 (một) lọ nhựa, bên trong có chứa mùn cưa;
- - 01 (một) lọ keo 502 đã qua sử dụng;
- - 01 (một) thước dây màu vàng đen, kích thước 4x4cm đã qua sử dụng;
- - 01 (một) cuộn băng dính màu trắng, khổ 4,5cm, đường kính 10cm;
- - 01 (một) ống nhựa P, đường kính 2,7cm, dài 15cm;
- - 01 (một) thìa kim loại màu trắng, dài 16cm;
- - 01 (một) thìa nhựa màu trắng, dài 12cm.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện L và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Sơn ngày 22 tháng 05 năm 2024
* Đối với số tiền 500.000 đồng chị Bùi Thị T2 đưa cho anh Bùi Đình Đ để nhờ mua pháo, anh Bùi Đình Đ đã mua pháp của bị cáo Trần Mạnh T. Số tiền này bị cáo T đã chi dùng hết. Đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần phải truy thu để nộp vào ngân sách nhà nước
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với Bùi Thị T2 là người đã nhờ Bùi Đình Đ mua 25 (hai mươi lăm) quả pháo với khối lượng 2,85kg (hai phẩy tám mươi lăm kilogam) của Trần Mạnh T với mục đích để sử dụng: Bùi Thị T2 không có tiền án, tiền sự về hành vi vận chuyển, tàng trữ trái phép pháo, thuốc pháo hoặc nguyên liệu để sản xuất pháo. Hành vi của Bùi Thị T2 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà vi phạm quy định tại điểm e khoản 4 Điều 11 Nghị định số 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021. Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã chuyển hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với Bùi Đình Đ: ngày 15/01/2024 đã mua giúp Bùi Thị T2 25 (hai mươi lăm) quả pháo với khối lượng 2,85kg (hai phẩy tám mươi lăm kilogam), Bùi Đình Đ không có tiền án, tiền sự về hành vi vận chuyển, tàng trữ trái phép pháo, thuốc pháo hoặc nguyên liệu để sản xuất pháo. Hành vi của Bùi Thị T2 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà vi phạm quy định tại điểm e khoản 4 Điều 11 Nghị định số 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021. Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã chuyển hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ của Trần Mạnh T, ngày 17/01/2024 đã phát hiện số pháo T cất giấu ở gian bếp của gia đình, bà đã ngăn cấm và yêu cầu T tiêu hủy. Bà L không rõ số pháo Thường sản xuất là bao nhiêu. Hành vi của bà Nguyễn Thị L không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên không có căn cứ xem xét xử lý
Đối với Bùi Thị L1 do được Bùi Thị T2 nhờ vào nhà Bùi Đình Đ để lấy đồ. L1 đã đồng ý tuy nhiên L1 không biết trong túi đồ T2 nhờ lấy có chứa 25 (hai mươi lăm) quả pháo nổ. Hành vi của Bùi Thị L1 không vi phạm quy định tại điểm e khoản 4 Điều 11 Nghị định số 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 và không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không có căn cứ xem xét xử lý
Đối tượng bán công cụ, vật liệu để sản xuất pháo cho Trần Mạnh T trên mạng xã hội không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chị án phí hính sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh Thường phạm t “Sản xuất hàng cấm”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Mạnh T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng kể từ ngày tuyên án
Giao bị cáo Trần Mạnh T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Trần Mạnh T thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
* Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 (một) thùng gỗ màu xanh, kích thước dài 52cm, rộng 32cm, cao 18,5cm;
- - 01 (một) lọ nhựa, bên trong có chứa mùn cưa;
- - 01 (một) lọ keo 502 đã qua sử dụng;
- - 01 (một) thước dây màu vàng đen, kích thước 4x4cm đã qua sử dụng;
- - 01 (một) cuộn băng dính màu trắng, khổ 4,5cm, đường kính 10cm;
- - 01 (một) ống nhựa P, đường kính 2,7cm, dài 15cm;
- - 01 (một) thìa kim loại màu trắng, dài 16cm;
- - 01 (một) thìa nhựa màu trắng, dài 12cm.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện L và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Sơn ngày 22 tháng 05 năm 2024
* Truy thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng của bị cáp Trần Mạnh T do phạm tội mà có.
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghì đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/05/2024); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khiêm |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về sản xuất hàng cấm
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sản xuất hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Mạnh T - sản xuất hàng cấm
