Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 42/2024/DS-ST

Ngày: 24/4/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Phương

Bà Huỳnh Thị Thanh Hà

- Thư ký phiên tòa:Hoàng Thị Phi Nga – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp về hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QÐST-DS ngày 07 tháng 03 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 15/2024/QÐST-DS ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1); Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A – Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ. Địa chỉ liên lạc: Tầng G Tòa nhà V, G D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Người nhận uỷ quyền lại: Ông Phan Huy M, ông Nguyễn Tiến T – Cán bộ xử lý nợ, theo Văn bản ủy quyền số 2511/2022/UQ-LCC-PUN KHCN MB ngày 01/11/2022. (Ông Nguyễn Tiến T có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Ông Đặng Thanh H – Sinh năm: 1981; Nơi thường trú: Số H Tổ C T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần V do người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 24/05/2019, Ngân hàng thương mại cổ phần V ký với ông Đặng Thanh H hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 với nội dung: Số tiền vay: 400.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua 01 xe ô tô cũ hiệu ZOTYE T700 để đi lại. Thời gian vay: 60 tháng, tính từ ngày tiếp theo ngày 24/05/2019 đến ngày 24/05/2024. Tài sản bảo đảm: 01 xe ô tô, nhãn hiệu ZOTYE T700, biển số đăng ký: 30F-728.59, số khung: D5H6JG712204, số máy: 63S4TSTP5013, đăng ký xe ô tô số 632437 do Công an thành phố H cấp ngày 22/05/2019 mang tên ông Đặng Thanh H. Tất cả phụ tùng, thiết bị, vật phụ ... được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản Thế chấp. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 8,9%/năm được áp dụng trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn này, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần + biên độ 2,7%/năm. Hình thức trả nợ: Trả gốc: Nợ gốc được trả vào 19 hàng tháng, ngày trả nợ đầu tiên vào ngày 19/06/2019, tổng cộng gồm 60 kỳ, mỗi tháng trả 6.666.000 đồng, riêng kỳ cuối trả 6.706.000 đồng. Trả lãi: Tiền lãi được trả vào 19 hàng tháng, ngày trả nợ đầu tiên vào ngày 19/06/2019. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Ngân hàng thương mại cổ phần V đã giải ngân cho ông Đặng Thanh H theo đơn đề nghị giải ngân ngày 24/05/2019 với số tiền 400.000.000 đồng.

Ngày 07/11/2019, ông Đặng Thanh H ký với Ngân hàng thương mại cổ phần V hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng). Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và thu nhập của ông H, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng V2 MasterCard với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng. Lãi suất trong hạn theo quy định của V2 qua từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn được xác định như sau: Bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn.

Sau khi giải ngân và đến các kỳ hạn trả nợ gốc và lãi, ông H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V, vi phạm nghiêm trọng hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 và hợp đồng tín dụng đã ký.

Tạm tính đến ngày 20/10/2023, ông H đã thanh toán được cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền là 161.556.085 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 113.372.032 đồng, nợ lãi: 48.184.053 đồng.

Tạm tính đến ngày 20/10/2023, ông Đặng Thanh H còn chưa thanh toán số nợ gốc, lãi và phí phạt của hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 và hợp đồng thẻ tín dụng đã ký như sau:

- Tổng số tiền chưa thanh toán: 566.071.163 đồng, cụ thể như sau:

+ Nợ gốc từ hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 (LD1914413227) ngày 24/05/2019 là: 286.627.968 đồng.

+ Nợ gốc từ hợp đồng thẻ tín dụng ngày 07/11/2019 là: 16.077.631 đồng.

+ Nợ lãi, phí phạt từ hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 (LD1914413227) ngày 24/05/2019 là: 221.340.621 đồng.

+ Nợ lãi, phí phạt từ hợp đồng thẻ tín dụng ngày 07/11/2019 là: 42.024.943 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở ông H thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ quá hạn nhưng ông H đều không thực hiện. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Ngân hàng thương mại cổ phần V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc ông H phải thanh toán ngay cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 20/10/2023 theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 ngày 24/05/2019 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) ngày 07/11/2019 là 566.071.163 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 302.705.599 đồng, nợ lãi, phí phạt là: 263.365.564 đồng.
  2. Buộc ông H thanh toán tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng trên kể từ ngày 21/10/2023 cho đến khi trả hết nợ.
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên và lãi phát sinh, thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: 01 xe ô tô, nhãn hiệu ZOTYE T700, biển số đăng ký: 30F-728.59, số khung: D5H6JG712204, số máy: 63S4TSTP5013, đăng ký xe ô tô số 632437 do Công an thành phố H cấp ngày 22/05/2019 mang tên ông Đặng Thanh H.
  4. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ theo những Hợp đồng tín dụng nêu trên. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Bị đơn là ông Đặng Thanh H: Ông H có hộ khẩu thường trú tại số H Tổ C T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội, tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561, Giấy cung cấp thẻ tín dụng, ông H cũng cung cấp địa chỉ cư trú như trên, ngoài ra không cung cấp địa chỉ nào khác. Tuy nhiên, qua xác minh, chính quyền địa phương cho biết ông Đặng Thanh H từ lâu đã không còn cư trú tại địa chỉ nêu trên. Ông H thường xuyên thay đổi số điện thoại, chuyển đến nơi cư trú khác không thông báo lại với nguyên đơn và chính quyền địa phương nên trường hợp này được coi như là cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt, niêm yết công khai hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo triệu tập đương sự, Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, ông H không có mặt theo thông báo triệu tập của Tòa án để làm bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, không đưa ra yêu cầu phản tố, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Do ông H không thực hiện nghĩa vụ của đương sự, nên phải chịu hậu quả do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Ngân hàng thương mại cổ phần V yêu cầu Tòa án buộc ông Đặng Thanh H thanh toán toàn bộ số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 ngày 24/5/2019, số tiền tạm tính đến ngày 24/4/2024 là: 510.470.528 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 286.627.968 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.479.953 đồng, nợ lãi quá hạn: 221.819.147 đồng, lãi chậm trả: 543.460 đồng và các khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 25/4/2024 cho đến ngày ông H thanh toán được toàn bộ khoản vay. Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô Zotye T700 trong trường hợp ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tại phiên toà, Nguyên đơn xin được rút một phần yêu cầu khởi kiện liên quan đến việc thanh toán tiền còn thiếu phát sinh từ Hợp đồng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/11/2019) do chưa cung cấp đủ các tài liệu chứng cứ, khi nào thu thập đủ Nguyên đơn sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Bị đơn là ông Đặng Thanh H đã được triệu tập đến phiên toà hợp lệ lần thứ ba nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại phiên tòa. Nguyên đơn chấp hành, bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 ngày 24/05/2019 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, có mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của Luật Các Tổ chức Tín dụng nên có hiệu lực pháp luật. Về lãi suất cho vay được các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V, buộc ông H trả số tiền nợ tính đến hết ngày 24/4/2024 là 510.470.528 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 286.627.968 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.479.953 đồng, nợ lãi quá hạn: 221.819.147 đồng, lãi chậm trả: 543.460 đồng và các khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 25/4/2024 cho đến ngày ông H thanh toán được toàn bộ khoản vay. Chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện về Hợp đồng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/11/2019) do rút yêu cầu khởi kiện. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xác định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

I. Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần V (V2) khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng đối với ông Đặng Thanh H, cư trú tại: Số H Tổ C T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với việc xét xử trong trường hợp bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ ba, ông Đặng Thanh H là bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mà không có người đại diện tham gia phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương, ông Đặng Thanh H từ lâu đã không còn cư trú tại địa chỉ: Số H Tổ C T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Ông H thay đổi số điện thoại liên tục, cũng như không thông báo cho nguyên đơn và chính quyền địa phương về việc chuyển địa điểm cư trú của mình nên căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp này được coi là cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo triệu tập đương sự, Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn là ông Đặng Thanh H tại nơi cư trú cuối cùng (số H Tổ C T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) là đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật theo thủ tục chung.

3. Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:

Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng TMCP V khởi kiện ông Đặng Thanh H phải thanh toán tiền nợ còn thiếu phát sinh từ Hợp đồng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) ngày 07/11/2019 với số tiền nợ gốc là: 16.077.631 đồng, nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 20/10/2023 là: 42.024.943 đồng và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 21/10/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Tuy nhiên tại phiên toà, do Nguyên đơn chưa cung cấp được đầy đủ các tài liệu có liên quan đến yêu cầu khởi kiện trên nên Nguyên đơn xin được rút phần yêu cầu liên quan đến tranh chấp về thẻ tín dụng nêu trên. Trường hợp thu thập đủ chứng cứ thì Nguyên đơn sẽ khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu. Xét thấy việc rút yêu cầu của Ngân hàng là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử xem xét đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này theo quy định tại khoản 2 Điều 244 BLTTDS. Giành quyền khởi kiện nội dung trên cho Ngân hàng TMCP V bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

II. Về nội dung:

[1]. Về nội dung và hiệu lực hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp:

Ngày 24/05/2019, Ngân hàng thương mại cổ phần V ký với ông Đặng Thanh H Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561, nội dung: Số tiền vay: 400.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua 01 xe ô tô cũ hiệu ZOTYE T700 để đi lại. Thời gian vay: 60 tháng, tính từ ngày tiếp theo ngày 24/05/2019 đến ngày 24/05/2024. Tài sản bảo đảm: 01 xe ô tô, nhãn hiệu ZOTYE T700, biển số đăng ký: 30F-728.59, số khung: D5H6JG712204, số máy: 63S4TSTP5013, đăng ký xe ô tô số 632437 do Công an thành phố H cấp ngày 22/05/2019 mang tên ông Đặng Thanh H.

Xét thấy: Việc hai bên xác lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp có nội dung nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 14, 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Thông tư số 30/2016/TT-NHNN ngày 14/10/2016), nên hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo đúng cam kết.

[2]. Về yêu cầu đòi nợ gốc của Nguyên đơn:

Ngày 24/05/2019, Ngân hàng thương mại cổ phần V ký với ông Đặng Thanh H hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561, giải ngân bằng tiền mặt: Số tiền vay: 400.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua 01 xe ô tô cũ hiệu ZOTYE T700, số máy 63S4TSTP5013 để đi lại. Thời gian vay: 60 tháng, tính từ ngày tiếp theo ngày 24/05/2019 đến ngày 24/05/2024. Thực hiện hợp đồng, ông H không trả nợ gốc đúng hạn, tính đến ngày 20/10/2023, ông H đã trả được 113.372.032 đồng nợ gốc, sau đó không trả thêm được khoản nợ gốc nào. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, yêu cầu ông H thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nhưng ông H đều không thực hiện. Nay Ngân hàng yêu cầu ông H trả số nợ gốc là 286.627.968 đồng.

Tòa án đã kiểm tra các chứng cứ về việc cho vay, xác định ông H đã được nhận số tiền gốc là 400.000.000 đồng. Về số tiền gốc đã trả, căn cứ sao kê tài khoản thể hiện ông H đã trả được 113.372.032 đồng tiền nợ gốc. Quá trình giải quyết vụ án, ông H đã nhiều lần được Tòa án thông báo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng theo Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các thông báo đó đều ghi số nợ gốc như trên, nhưng ông H không giao nộp tài liệu, chứng cứ, không có ý kiến phản đối yêu cầu của Ngân hàng. Do đó, căn cứ vào Điều 95 của Luật Các Tổ chức Tín dụng năm 2010, Tòa án chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần V, buộc ông Đặng Thanh H phải trả số nợ gốc tính đến ngày 24/4/2024 Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp ngày 24/5/2019 là: 400.000.000 đồng – 113.372.032 đồng = 286.627.968 đồng.

[3]. Về yêu cầu đòi tiền lãi của Nguyên đơn:

Ngân hàng V2 yêu cầu Bị đơn trả số tiền nợ lãi của Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 24/4/2024 là: Nợ lãi trong hạn là: 1.479.953 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 221.819.147 đồng, lãi chậm trả: 543.460 đồng.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 8,9%/năm được áp dụng trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn này, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần + biên độ 2,7%/năm. Hình thức trả nợ: Trả gốc: Nợ gốc được trả vào 19 hàng tháng, ngày trả nợ đầu tiên vào ngày 19/06/2019, tổng cộng gồm 60 kỳ, mỗi tháng trả 6.666.000 đồng, riêng kỳ cuối trả 6.706.000 đồng. Trả lãi: Tiền lãi được trả vào 19 hàng tháng, ngày trả nợ đầu tiên vào ngày 19/06/2019. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Tại Điều 2 của “Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô” ngày 24/5/2019 có quy định: “Điều kiện Giao dịch chung: Là Điều kiện giao dịch chung về cho vay và thế chấp xe ô tô áp dụng đối với khách hàng cá nhân vay từng lần, giải ngân một lần tại V2 để mua xe ô tô và khoản vay được bảo đảm bằng tài sản bảo đảm là xe ô tô của chính Khách hàng. Điều kiện Giao dịch chung bao gồm những điều khoản ổn định do V2 niêm yết công khai tại trụ sở V2 và trên Webside http://www.V2.com.vnNếu khách hàng chấp nhận ký kết Hợp đồng này thì được coi là chấp nhận các điều khoản tại Điều kiện Giao dịch chung”.

* Nợ lãi trong hạn: Theo thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng: Ông H phải trả tiền lãi vào ngày 19 hàng tháng, ngày trả nợ đầu tiên vào ngày 19/06/2019. Tuy nhiên đến đợt thanh toán 30/9/2020, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không trả hết nợ gốc, lãi cho Ngân hàng. Thấy rằng, theo Bảng tính lãi Ngân hàng cung cấp tại Tòa án, cách xác định lãi trong hạn của Ngân hàng là dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đồng thời phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận; Tạm tính đến ngày 24/4/2024, tổng số tiền nợ lãi trong hạn bị đơn phải trả là: 1.479.953 đồng.

* Nợ lãi quá hạn: Tại Điều 6 của Điều kiện giao dịch chung: “Các bên thống nhất thoả thuận rằng V2 có quyền chấm dứt cho vay, dừng giải ngân và thu hồi toàn bộ dư nợ vay còn lại của Khách hàng trước thời hạn trong những trường hợp sau đây: Khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bất kỳ một Kỳ trả nợ gốc, K trả nợ lãi nào theo thoả thuận của Các bên trong Hợp đồng và văn bản liên quan. Khi xảy ra trường hợp trên, V2 có quyền căn cứ vào tình hình thực tế và lựa chọn thời điểm thích hợp để quyết định giải ngân, chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn. Khi V2 quyết định thu hồi nợ trước hạn, tất cả các khoản nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ liên quan khác của Khách hàng theo Hợp đồng đã đến hạn hay chưa đến hạn đều trở thành khoản nợ đến hạn”.

Tại khoản 1 Điều 7 Điều kiện giao dịch chung quy định: “V2 được quyền chuyển nợ quá hạn đối với dư nợ gốc của Khác hàng trong các trường hợp sau: a. Khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gốc theo các Kỳ trả nợ đã thoả thuận giữa Các bên trong Hợp đồng, Điều kiện Giao dịch chung này và không được V2 chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Thời điểm quá hạn được tính từ ngày kế tiếp của ngày đến hạn trả nợ gốc theo các K trả nợ”.

Như vậy, theo bảng kê chi tiết việc thanh toán gốc lãi thể hiện, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ 30/9/2020, đến ngày 19/10/2020, Ngân hàng đã chuyển dư nợ của khách hàng sang thành khoản nợ quá hạn là phù hợp với các thoả thuận đã ký kết giữa các bên. Bảng tính lãi thể hiện Ngân hàng đã tính chi tiết thời điểm khoản nợ gốc bị chuyển sang quá hạn, lãi suất áp dụng, thời gian tính lãi để qua đó xác định số tiền nợ lãi quá hạn Bị đơn còn nợ. Cách xác định lãi quá hạn của Ngân hàng là dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận; Số tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 24/4/2024, Bị đơn còn nợ Ngân hàng là: 221.819.147 đồng.

* Lãi chậm trả: Lãi chậm trả được Ngân hàng xác định trên số tiền nợ lãi trong hạn theo lãi suất không vượt quá 10% tính trên thời gian chậm trả. Cách xác định này phù hợp với thoả thuận của các bên trong Hợp đồng tín dụng và theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bảng tính lãi chậm trả đã xác định số tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 24/4/2024 là: 543.460 đồng.

Như vậy, ông Đặng Thanh H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ còn thiếu theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 đã ký kết giữa hai bên ngày 24/5/2019, số tiền tạm tính đến ngày 24/4/2024 là: 510.470.528 đồng, trong đó: nợ gốc là: 286.627.968 đồng, nợ lãi trong hạn là: 1.479.953 đồng, nợ lãi quá hạn là: 221.819.147 đồng, nợ lãi chậm trả: 543.460 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 24/4/2024, ông Đặng Thanh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V.

[4]. Về xử lý tài sản bảo đảm:

[4.1]. Theo hồ sơ thể hiện chiếc xe ô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu ZOTYE T700, biển số đăng ký: 30F-728.59, số khung: D5H6JG712204, số máy: 63S4TSTP5013, đăng ký xe ô tô số 632437 do Công an thành phố H cấp ngày 22/05/2019 mang tên ông Đặng Thanh H. Qua xác minh, chính quyền địa phương cho biết ông Đặng Thanh H không còn cư trú tại địa chỉ: Số H Tổ C T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Ông H thường xuyên thay đổi số điện thoại, chuyển đến nơi cư trú khác không thông báo lại với nguyên đơn và chính quyền địa phương nên không tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ được.

[4.2] Nay Ngân hàng TMCP V yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Xét thấy, chiếc xe ô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu ZOTYE T700, biển số đăng ký: 30F-728.59, số khung: D5H6JG712204, số máy: 63S4TSTP5013, đăng ký xe ô tô số 632437 do Công an thành phố H cấp ngày 22/05/2019 mang tên ông Đặng Thanh H được bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của ông H theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 (LD1914413227) ngày 24/05/2019. Căn cứ vào Điều 299, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần V: Trường hợp ông H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm. Sau khi phát mại tài sản bảo đảm trên, nếu không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Đặng Thanh H vẫn tiếp tục phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

[5]. Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, được nhận lại 10.830.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là: 24.418.821 (Hai mươi tư triệu bốn trăm mươi tám nghìn tám trăm hai mươi mốt) đồng.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 71; Điều 72; Điều 73; điểm d khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 121; Điều 290; Điều 342; Điều 343; Điều 355; Điều 361; Điều 362; Điều 363; Điều 369; Điều 405; Điều 466, Điều 468; Điều 471; Điều 473; Điều 474; Điều 476; khoản 2 Điều 478; Điều 715 Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Căn cứ Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ quy định về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ quy định về giao dịch bảo đảm;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với ông Đặng Thanh H.
  2. Buộc ông Đặng Thanh H phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ còn thiếu theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 ngày 24/5/2019 tạm tính đến ngày 24/4/2024 là: 510.470.528 (Năm trăm mười triệu bốn trăm bảy mươi nghìn năm trăm hai mươi tám) đồng, trong đó: nợ gốc là: 286.627.968 đồng, nợ lãi trong hạn là: 1.479.953 đồng, nợ lãi quá hạn là: 221.819.147 đồng, nợ lãi chậm trả: 543.460 đồng.
  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 24/4/2024, ông Đặng Thanh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1905201402561 ngày 24/5/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V.
  4. Đình chỉ xét xử yêu cầu đòi tiền nợ còn thiếu liên quan đến Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/11/2019 do Ngân hàng TMCP V rút yêu cầu khởi kiện; Giành quyền khởi kiện cho Ngân hàng TMCP V khởi kiện nội dung trên bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
  5. Về xử lý tài sản bảo đảm: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng V: Ngân hàng TMCP V có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp ông Đặng Thanh H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tài sản có quyền yêu cầu xử lý là: 01 xe ô tô, nhãn hiệu ZOTYE T700, biển số đăng ký: 30F-728.59, số khung: D5H6JG712204, số máy: 63S4TSTP5013, đăng ký xe ô tô số 632437 do Công an thành phố H cấp ngày 22/05/2019 mang tên ông Đặng Thanh H.

    Sau khi phát mại tài sản bảo đảm trên, nếu không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Đặng Thanh H vẫn tiếp tục phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP V cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Về án phí và quyền kháng cáo:

    Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 10.830.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013987 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

    Ông Đặng Thanh H phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 24.418.821 (Hai mươi tư triệu bốn trăm mươi tám nghìn tám trăm hai mươi mốt) đồng.

    Án xử công khai sơ thẩm, có mặt đại diện Ngân hàng TMCP V; vắng mặt ông Đặng Thanh H.

    Ngân hàng TMCP V có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đặng Thanh H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hai Bà Trưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hoàng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 42/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Ông Đặng Thanh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger