|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/DS-ST Ngày: 29/8/2024 Vụ án: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Ngô Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Khoa
Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- Thư ký phiên toà : Bà Phùng Nữ Lệ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 186/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 02/TB-TA ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng T4 (Ngân hàng T4).
Địa chỉ trụ sở: 145-147-149 H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ liên hệ: số A L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Văn T – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT
Đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Nhật H – Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng T4 (Theo Giấy ủy quyền số 36/2023/GUQ-CB ngày 20/3/2023)
Ông Hoàng Nhật H ủy quyền lại cho:
- Ông Nguyễn Văn T1, Chức vụ: Ban Công nợ Ngân hàng T4.
- Ông Lê Đình Q, Chức vụ: Ban Công nợ Ngân hàng Xây dựng
- Ông Nguyễn Ngọc H1, Chức vụ: Ban Công nợ Ngân hàng Xây dựng
- Bà Phan Ngọc Ý V, Chức vụ: Ban Công nợ Ngân hàng T4
(Theo Giấy ủy quyền số 224/2024/GUQ-CB ngày 24/4/2024, ông T1, ông H1, bà V có mặt).
- Bị đơn: Ông Tạ Công L, sinh năm 1984
Địa chỉ: số A khu tập thể B- tổ A, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (ông L có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị K
- Ông Nguyễn Văn M
Địa chỉ: ấp Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (bà K, ông M vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng T4, bà Phan Ngọc Ý V trình bày:
Ngày 16/09/2020, ông Tạ Công L đã ký với Ngân hàng T4 Hợp đồng tín dụng số 128/2020/22000/07.HĐTD/070. Theo đó, Ngân hàng T4 cho ông Tạ Công L vay 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: hai tỷ đồng). Mục đích vay: Bù đắp tiền mua đất ở; Thời hạn vay là 180 tháng (từ ngày 24/09/2020 đến ngày 24/09/2035); Lãi suất vay: Cố định 24 tháng đầu tiên lãi suất vay 10,9%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ thả nổi: lãi suất tiết kiệm 24 tháng lĩnh lãi cuối kỳ là 3,6%/năm, chu kỳ điều chỉnh lãi suất là 3 tháng 1 lần, sau 2 năm kể từ ngày giải ngân đầu tiên; Lãi quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi trên nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Tài sản để bảo đảm khoản vay trên là diện tích 272,4m² đất thuộc thửa 403 (số cũ 410), tờ bản đồ số 29 (số cũ 22) tọa lạc tại xã L, thị xã B (nay là Thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AG 830725 do Ủy ban Nhân dân thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 20/11/2006.
Tính đến ngày 29/8/2024, ông Tạ Công L đã trả còn nợ Ngân hàng số tiền là: 1.938.934.342đ (Bằng chữ: một tỷ, chín trăm ba mươi tám triệu, chín trăm ba mươi bốn ngàn, ba trăm bốn mươi hai đồng), trong đó:
| Dư nợ gốc hiện tại | : | 1.644.361.774 đồng |
| Nợ lãi trong hạn | : | 259.931.119 đồng |
| Lãi chậm trả lãi | : | 16.202.031 đồng |
| Lãi chậm trả gốc | : | 18.439.418 đồng |
Và tiền lãi cho đến khi thanh toán xong hết nợ.
Trường hợp ông Tạ Công L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng T4 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng T4 để thu hồi nợ
[2] Bị đơn, ông Tạ Công L trình bày ý kiến: Ngày 16/09/2020, ông có vay vốn tại Ngân hàng T4 theo Hợp đồng tín dụng số 128/2020/22000/07.HĐTD/070 để vay số tiền 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: hai tỷ đồng). Mục đích vay: Bù đắp tiền mua đất ở; Thời hạn vay là 180 tháng (từ ngày 24/09/2020 đến ngày 24/09/2035); Lãi suất vay: Cố định 24 tháng đầu tiên lãi suất vay 10,9%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ thả nổi: lãi suất tiết kiệm 24 tháng lĩnh lãi cuối kỳ là 3,6%/năm, chu kỳ điều chỉnh lãi suất là 3 tháng 1 lần, sau 2 năm kể từ ngày giải ngân đầu tiên; Lãi quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi trên nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Về tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông L đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng diện tích 272,4m² đất thuộc thửa 403 (số cũ 410), tờ bản đồ số 29 (số cũ 22) tọa lạc tại xã L, thị xã B (nay là Thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AG 830725 do Ủy ban Nhân dân thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 20/11/2006.
Nguồn gốc diện tích đất này là do ông nhận chuyển nhượng từ vợ chồng Ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị K vào năm 2020. Hiện nay trên đất có 01 căn nhà cấp 4, ông L đang cho vợ chồng ông M bà K ở nhờ trên đất. Ông L đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông M bà K trả nhà nhưng ông M bà K không đồng ý.
Ông L đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 29/8/2024 là: 1.938.934.342₫ (Bằng chữ: một tỷ, chín trăm ba mươi tám triệu, chín trăm ba mươi bốn ngàn, ba trăm bốn mươi hai đồng), trong đó:
| Dư nợ gốc hiện tại | : | 1.644.361.774 đồng |
| Nợ lãi trong hạn | : | 259.931.119 đồng |
| Lãi chậm trả lãi | : | 16.202.031 đồng |
| Lãi chậm trả gốc | : | 18.439.418 đồng |
Và tiền lãi cho đến khi ông L thanh toán xong hết nợ.
Thời điểm ông L ký hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp với Ngân hàng T4 thì ông chưa kết hôn nên ông xác định khoản vay này là nợ riêng của ông.
Kể từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông L không thanh toán các khoản nợ nêu trên thì ông L đồng ý để Tòa án xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
[3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Văn M vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/7/2024, ông M bà K trình bày:
Năm 2020, ông M bà K cần tiền trả nợ nên nhờ con dâu là bà Trần Thị Hồng P tìm người để chuyển nhượng diện tích 272,4m² đất thuộc thửa 403 (số cũ 410), tờ bản đồ số 29 (số cũ 22) tọa lạc tại xã L, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG830725 do Ủy ban Nhân dân thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 20/11/2006. Thông qua bà P, ông M và bà K đã chuyển nhượng diện tích cho ông Trần Văn T2 (tên thường gọi là H2, không rõ nhân thân lai lịch). Bà K, ông M không trực tiếp thỏa thuận việc chuyển nhượng, giá cả chuyển nhượng với ông T2 mà tất cả đều thông qua bà P. Bà K, ông Minh xác N có ký tên vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng không nhận được tiền chuyển nhượng. Bà P nói với vợ chồng bà khi ông M là ông Tân giữ tiền và ông T2 đồng ý để cho vợ chồng bà K, ông M sinh sống tại nhà đất nói trên cho đến khi ông M, bà K chết. Cho đến nay bà K và ông M vẫn chưa nhận được số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất tuy nhiên ông bà không làm đơn trình báo cơ quan có thẩm quyền.
Trong vụ án này, tại thời điểm ông L ký hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp với Ngân hàng T4 thì bà K và ông M không được biết. Nay, ông bà cũng không có ý kiến gì, chỉ yêu cầu Ngân hàng T4 cho ông bà được tiếp tục ở tại nhà đất này cho đến khi ông bà chết vì ông bà không còn chỗ ở nào khác.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn đúng theo quy định tại Điều 48 BLTTDS. Phiên tòa xét xử diễn ra đúng thời gian, địa điểm được thông báo. Quá trình xét xử tuân thủ đúng trình tự quy định tại BLTTDS. Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa cho rằng yêu cầu của Ngân hàng T4 là hoàn toàn có cơ sở, do đó đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về Tố tụng:
1.1. Về xác định quan hệ tranh chấp: Ngân hàng T4 và ông Tạ Công L, có ký kết Hợp đồng tín dụng số 128/2020/22000/07.HĐTD/070 ngày 16/9/2020, theo đó Ngân hàng T4 cho ông Tạ Công L vay số tiền 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: hai tỷ đồng). Mục đích vay: Bù đắp tiền mua đất ở; Thời hạn vay là 180 tháng (từ ngày 24/09/2020 đến ngày 24/09/2035); Lãi suất vay: Cố định 24 tháng đầu tiên lãi suất vay 10,9%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ thả nổi: lãi suất tiết kiệm 24 tháng lĩnh lãi cuối kỳ là 3,6%/năm, chu kỳ điều chỉnh lãi suất là 3 tháng 1 lần, sau 2 năm kể từ ngày giải ngân đầu tiên; Lãi quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi trên nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Nay có tranh chấp về Hợp đồng này nên xác định đây là vụ án Dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”;
1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là Tạ Công L có nơi cư trú tại số nhà A khu tập thể B- tổ A, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.3. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Văn M: Ông M và bà K đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa tuy nhiên tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/7/2024, Ông M và bà K trình bày lý do hiện nay ông bà đã tuổi cao, sức yếu, bà N1 hiện đang bị bệnh nặng, không thể đi lại, vận động được. Nên ông bà không thể đến Tòa án để làm việc cũng như tham gia phiên tòa được, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông bà. Ông bà không thể tự viết đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên đề nghị Tòa án ghi nhận ý kiến của ông bà trong Biên bản xác minh. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông M, bà K.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu của Ngân hàng T4 (Viết tắt là Ngân hàng T4) yêu cầu ông Tạ Công L phải thanh toán cho Ngân hàng tính đến hết ngày 29/8/2024, tổng cộng: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: hai tỷ đồng). Trong đó bao gồm: Dư nợ gốc hiện tại: 1.938.934.342đ (Bằng chữ: một tỷ, chín trăm ba mươi tám triệu, chín trăm ba mươi bốn ngàn, ba trăm bốn mươi hai đồng), trong đó:
| Dư nợ gốc hiện tại | : | 1.644.361.774 đồng |
| Nợ lãi trong hạn | : | 259.931.119 đồng |
| Lãi chậm trả lãi | : | 16.202.031 đồng |
| Lãi chậm trả gốc | : | 18.439.418 đồng |
Và tiền lãi cho đến khi ông L thanh toán xong hết nợ.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Ông L ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng T4, ông L chỉ mới trả được số tiền 922.519.471 đồng (chín trăm hai mươi hai triệu, năm trăm mười chín ngàn, bốn trăm bảy mươi mốt đồng); trong đó: nợ gốc là 355.638.226 đồng và nợ lãi là 566.881.245 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông L phải thanh toán khoản tiền trên là phù hợp với quy định tại các Điều 463; 466; 468 Bộ luật dân sự. Vì vậy, buộc ông L phải thanh toán khoản tiền nợ gốc là 1.644.361.774 đồng (Một tỷ sáu trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm sáu mươi mốt ngàn, bảy trăm bảy mươi bốn đồng) cho Ngân hàng T4.
- Về lãi quá hạn: Theo Hợp đồng tín dụng số 128/2020/22000/07.HĐTD/070 ngày 16/9/2020 thì thời hạn vay là 180 tháng, do đó hạn cuối ông T3 phải thanh toán toàn bộ khoản nợ trên cho Ngân hàng V1 là ngày 16/9/2035. Tuy nhiên, từ ngày 30/6/2023, ông L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi nên Ngân hàng T4 chuyển toàn bộ khoản vay sang quá hạn là phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Tại mục 2.2 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng, thì mức lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn. Do đó, kể từ ngày 30/6/2023 (ngày bắt đầu quá hạn gốc) đến hết ngày 29/8/2024, ông L phải thanh toán các khoản tiền lãi như sau: Nợ lãi trong hạn: 259.931.119 đồng; Lãi chậm trả lãi: 16.202.031đồng; Lãi chậm trả gốc : 18.439.418 đồng;
Từ phân tích trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T4:
- Buộc ông Tạ Công L phải thanh toán cho Ngân hàng T4 số tiền tính đến ngày 29/8/2024 là tổng cộng: 1.938.934.342đ (Bằng chữ: một tỷ, chín trăm ba mươi tám triệu, chín trăm ba mươi bốn ngàn, ba trăm bốn mươi hai đồng), trong đó:
| Dư nợ gốc hiện tại | : | 1.644.361.774 đồng |
| Nợ lãi trong hạn | : | 259.931.119 đồng |
| Lãi chậm trả lãi | : | 16.202.031 đồng |
| Lãi chậm trả gốc | : | 18.439.418 đồng |
Và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 128/2020/22000/07.HĐTD/070 ngày 16/9/2020 được ký kết giữa Ngân hàng T4 và ông Tạ Công L, cho đến khi trả hết nợ,
[2.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng T4, yêu cầu trường hợp ông Tạ Công L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho ngân hàng thì Ngân hàng T4 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản là Quyền sử dụng diện tích 272,4m² đất thuộc thửa 403 (số cũ 410), tờ bản đồ số 29 (số cũ 22) tọa lạc tại xã L, thị xã B (nay là Thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AG 830725 do Ủy ban Nhân dân thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 20/11/2006 cho bà Nguyễn Thị K, thì thấy:
Ngày 23/9/2020, Ngân hàng T4 và ông Tạ Công L đã ký Hợp đồng thế chấp số 128/2020/22000/08.HĐTC/070, được công chứng tại Văn phòng C, số 00818, quyền số 01C/2020/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 23/9/2020 và đã Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Theo thỏa thuận tại Điều 1, thì tài sản dùng để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số 128/2020/22000/07.HĐTD/070 ngày 16/9/2020, được ký kết giữa Ngân hàng và Bên được bảo đảm là ông Tạ Công L. Ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng T4 yêu cầu phải thanh toán nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên trong trường hợp ông L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là hoàn toàn phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 6 của Hợp đồng thế chấp. Do đó chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng T4, trường hợp ông Tạ Công L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì Ngân hàng T4 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản là Quyền sử dụng diện tích 272,4m² đất thuộc thửa 403 (số cũ 410), tờ bản đồ số 29 (số cũ 22) tọa lạc tại xã L, thị xã B (nay là Thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng để thu hồi nợ.
Đối với ý kiến của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị K, xét thấy: ông M và bà K cho rằng ông bà không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Tạ Công L mà chuyển nhượng cho ông Trần Văn T2, ông bà cũng chưa nhận được tiền chuyển nhượng. Tuy nhiên, từ khi xảy ra sự việc đến nay, ông M bà K không làm đơn trình báo cơ quan có thẩm quyền hay đơn khởi kiện. Trong vụ án này, ông M và bà K cũng không có đơn yêu cầu độc lập. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, giải quyết.
Chi phí thẩm định: Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự, ông L phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định là 7.000.000đ (bảy triệu đồng), Ngân hàng T4 đã nộp tạm ứng khoản tiền này nên buộc ông L phải hoàn trả lại cho Ngân hàng T4 số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng).
Án phí Dân sự sơ thẩm: Vì toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng T4 được chấp nhận nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Tạ Công L phải chịu toàn bộ án phí đối với nghĩa vụ trả số tiền 70.168.030 đồng (bảy mươi triệu, một trăm sáu mươi tám ngàn, không trăm ba mươi đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 40; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; các Điều 235; 266; 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Các Điều 463; 466; 468 Bộ luật dân sự
- Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T4 đối với ông Tạ Công L, về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
[1.1] Buộc ông Tạ Công L phải thanh toán cho Ngân hàng T4, tính đến hết ngày 29/8/2024 tổng cộng là 1.938.934.342đ (Bằng chữ: một tỷ, chín trăm ba mươi tám triệu, chín trăm ba mươi bốn ngàn, ba trăm bốn mươi hai đồng), trong đó:
| Dư nợ gốc hiện tại | : | 1.644.361.774 đồng |
| Nợ lãi trong hạn | : | 259.931.119 đồng |
| Lãi chậm trả lãi | : | 16.202.031 đồng |
| Lãi chậm trả gốc | : | 18.439.418 đồng |
[1.2] Trường hợp ông Tạ Công L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì thì Ngân hàng T4 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản là Quyền sử dụng diện tích 272,4m² đất thuộc thửa 403 (số cũ 410), tờ bản đồ số 29 (số cũ 22) tọa lạc tại xã L, thị xã B (nay là Thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AG 830725 do Ủy ban Nhân dân thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 20/11/2006 cho bà Nguyễn Thị K, để thu hồi nợ.
[1.3] Tiền lãi phát sinh được tính từ ngày 30/8/2024, theo Hợp đồng tín dụng số 128/2020/22000/07.HĐTD/070 ngày 16/9/2020 được ký kết giữa Ngân hàng T4 và ông Tạ Công L, cho đến khi trả hết nợ.
[2] Chi phí thẩm định: Ông Tạ Công L phải hoàn trả cho Ngân hàng T4 số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng),
[3] Án phí DSST sơ thẩm:
[3.1] Ông Tạ Công L phải nộp 70.168.030 đồng (bảy mươi triệu, một trăm sáu mươi tám ngàn, không trăm ba mươi đồng) án phí DSST.
[3.2] Hoàn lại cho Ngân hàng T4 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là số tiền 33.000.000 (ba mươi ba triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001290 ngày 17/6/2024 Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bà Rịa.
[4] Đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2024)); Riêng đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thu Hà |
Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 42/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 16/09/2020, ông Tạ Công L đã ký với Ngân hàng T4 Hợp đồng tín dụng số 128/2020/22000/07.HĐTD/070. Theo đó, Ngân hàng T4 cho ông Tạ Công L vay 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: hai tỷ đồng). Mục đích vay: Bù đắp tiền mua đất ở; Thời hạn vay là 180 tháng (từ ngày 24/09/2020 đến ngày 24/09/2035); Lãi suất vay: Cố định 24 tháng đầu tiên lãi suất vay 10,9%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ thả nổi: lãi suất tiết kiệm 24 tháng lĩnh lãi cuối kỳ là 3,6%/năm, chu kỳ điều chỉnh lãi suất là 3 tháng 1 lần, sau 2 năm kể từ ngày giải ngân đầu tiên; Lãi quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi trên nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trå. Tài sản để bảo đảm khoản vay trên là diện tích 272,4m2 đất thuộc thửa 403 (số cũ 410), tờ bản đồ số 29 (số cũ 22) tọa lạc tại xã L, thị xã B (nay là Thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AG 830725 do Ủy ban Nhân dân thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 20/11/2006. Tính đến ngày 29/8/2024, ông Tạ Công L đã trả còn nợ Ngân hàng số tiền là: 1.938.934.342đ (Bằng chữ: một tỷ, chín trăm ba mươi tám triệu, chín trăm ba mươi bốn ngàn, ba trăm bốn mươi hai đồng), trong đó: Dư nợ gốc hiện tại : 1.644.361.774 đồng Nợ lãi trong hạn:259.931.119 đồng Lãi chậm trả lãi:16.202.031 đồng Lãi chậm trả gốc : 18.439.418 đồng Và tiền lãi cho đến khi thanh toán xong hết no. Trường hợp ông Tạ Công L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng T4 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng T4 để thu hồi nợ
