Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 42/2024/DS-ST

Ngày 11 – 7 – 2024

“V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. 1. Ông Lê Văn Qui

  2. 2. Ông Nguyễn Văn Trưởng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 195/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-DS, ngày 17/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2024/QĐST-DS ngày 28/6/2024 giữa các đương sự:

  1. 1. Nguyên đơn: Ngân hàng C.

  2. Địa chỉ: CC5, Bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

  3. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quyết T – Chức vụ: Tổng giám đốc.

  4. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Nhựt Y – Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã C.

  5. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ – Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã C.

  1. Địa chỉ: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

  2. 2. Bị đơn: Ông Trần Chung Phong Vũ Hoài T1, sinh năm: 1977.

  3. Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

  4. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Hương S, sinh năm 1980.

  5. Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại tòa án người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn Ngân hàng CNguyễn Thị Ngọc Đ trình bày: Vào ngày 21/6/2019 ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 cùng người thừa kế là bà Nguyễn Thị Hương S có vay của Ngân hàng theo chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo với số tiền 45.000.000 đồng, lãi suất 8,250%/tháng, lãi suất quá hạn 10,725%/tháng, thời hạn cho vay 60 tháng, thời hạn trả nợ ngày 21/6/2024. Thực hiện đóng lãi hàng tháng và trả nợ theo phân kỳ quy định. Ông T1, bà S vay không có thế chấp tài sản. Trong quá trình vay tiền ông T1, bà S không thực hiện việc đóng lãi theo đúng định kỳ, vi phạm hợp đồng.

Vì vậy nay ngân hàng yêu cầu ông T1, bà S có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 05/6/2024 là 45.000.000 đồng vốn và 7.421.872 đồng lãi. Yêu cầu ông T1, bà S tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng.

Ngày 11/7/2024, nguyên đơn cung cấp bảng kê tính lãi suất đối với ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 tính đến ngày 11/7/2024 với số tiền chưa thanh toán là 7.788.036 đồng, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Hương S có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền 52.788.036 đồng. Trong đó nợ gốc là 45.000.000đồng, lãi suất là 7.788.036 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay đã ký kết cho đến khi trả xong số nợ.

Bị đơn ông Trần Chung Phong Vũ Hoài Thanh vắng m, trình bày ý kiến tại bản tự khai ngày 27/02/2024: Tôi Trần Chung P Vũ Hoài T1 có vay của Ngân hàng C phòng giao dịch thị xã L số tiền 45.000.000đồng, đến thời điểm ngày 20/7/2024 với số tiền lãi là 6.414.920 đồng. Tôi đồng ý trả nợ đến trước ngày 21/6/2024. Tôi đồng ý trả tất nợ cho ngân hàng và lãi suất phát sinh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Hương S vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng chưa ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Hương S có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng C đến thời điểm xét xử sơ thẩm tổng số tiền là 52.788.036 đồng. Trong đó nợ gốc là 45.000.000đồng, lãi suất là 7.788.036 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay đã ký kết cho đến khi trả xong số nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng C khởi kiện bị đơn ông Trần Chung Phong Vũ Hoài T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Hương S yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải trả lại số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Chung Phong Vũ Hoài T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Hương S Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên. Tòa án căn cứ quy định tại Điều 173, 189 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp để giải quyết.

[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 cùng với bà Nguyễn Thị Hương S phải trả nợ gốc đã vay với tổng số tiền là 52.788.036 đồng. Trong đó nợ gốc là 45.000.000đồng, lãi suất là 7.788.036 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay đã ký kết cho đến khi trả xong số nợ.

[4] Nộp kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn cung cấp các tài liệu chứng cứ: Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay, được phê duyệt ngày 17/6/2019, chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, họ tên người vay Trần Chung P Vũ Hoài T1, số tiền 45.000.000đồng; Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay-thu nợ-dư nợ tên khách hàng Trần Chung P Vũ Hoài T1; Giấy ủy quyền ngày 14/6/2019 của hộ gia đình Trần Chung P Vũ Hoài T1; sổ vay vốn mã khách hàng 7095248579; các bảng kê tính lãi tên khách hàng Trần Trung P1 Vũ Hoài T1 tính đến ngày 11/7/2024, Quyết định số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng C về việc ủy quyền tham gia tố tụng và thi hành án. Giấy ủy quyền tham gia tố tụng ngày của Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã C.

[5] Căn cứ các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp chứng minh được: giữa Ngân hàng C phòng giao dịch thị xã C có giao kết hợp đồng tín dụng với hộ gia đình ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 gồm ông Trần Chung Phong Vũ Hoài T1, bà Nguyễn Thị Hương S, do ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 làm đại diện theo ủy quyền ký kết hợp đồng vay vốn để trồng mới cây ăn quả, nhằm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình với số tiền 45.000.000đồng.

[6] Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 không thực hiện đúng thỏa thuận, cụ thể là không trả nợ gốc và lãi đúng kỳ theo thỏa thuận, tính đến ngày xét xử sơ thẩm hộ ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 còn nợ tổng số tiền là 52.788.036 đồng. Trong đó nợ gốc là 45.000.000đồng, lãi suất là 7.788.036 đồng.

[7] Căn cứ các quy định: Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất ...theo quy định pháp luật”. Khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này; b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.

[8] Từ những chứng cứ nên trên, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận buộc bị đơn ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hương S có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng C, phòng giao dịch thị xã C tổng số tiền là 52.788.036 đồng. Trong đó nợ gốc là 45.000.000đồng, lãi suất là 7.788.036 đồng, tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết cho đến khi trả hết số nợ.

[9] Từ những nhận định nêu xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn ông Trần Chung Phong Vũ Hoài T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hương S có trách nhiệm liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 52.788.036 đồng x 5% = 2.639.402 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 147, 173, 189, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sữa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C.

[3] Buộc bị đơn ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 cùng với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Hương S có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C, có người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Ngọc Đ tổng số tiền là 52.788.036 đồng (năm mươi hai triệu, bảy trăm tám mươi tám nghìn không trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 45.000.000đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), lãi suất là 7.788.036 đồng (bảy triệu, bảy trăm tám mươi tám nghìn không trăm ba mươi sáu đồng).

[4] Kể từ ngày 12/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay, được phê duyệt ngày 17/6/2019 được ký kết giữa ông Trần Chung P Vũ Hoài T1Ngân hàng C Phòng giao dịch thị xã L.

[5] Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trần Chung P Vũ Hoài T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hương S có trách nhiệm liên đới nộp số tiền 2.639.402 đồng (hai triệu, sáu trăm ba mươi chín nghìn bốn trăm lẻ hai đồng).

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, nguời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Qui Nguyễn Văn T2

Lê Thị D

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Diệu

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Qui Nguyễn Văn Trưởng

Lê Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 42/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yc của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger