Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/DS-ST

Ngày: 07 - 6 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Diệu Hiền

Ông Nguyễn Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 132/2024/TLST-DS ngày 22/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Tuyết L, sinh năm 1970

Địa chỉ: Số D T, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ.

Người đại diện ủy quyền: Anh Trần Tấn T, sinh năm 1977

Địa chỉ: Số 14, khóm Tân Bình, phường An Hòa, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đ

2. Bị đơn:

2.1. Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1957

Địa chỉ: Số 11/11 Trần Văn Voi, Khóm 2, Phường 4, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đ

2.2. Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1980

Địa chỉ: Số A T, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ

Tại phiên tòa: Có mặt anh T (đại diện ủy quyền của nguyên đơn); Bị đơn chị H, ông Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa chị Phan Thị Tuyết L ủy quyền cho anh Trần Tấn T trình bày:

Trong năm 2023, chị H có vay của chị L nhiều lần tiền cụ thể:

  • - Ngày 16/9/2023 cho chị H có vay số tiền 250.000.000 đồng.
  • - Ngày 25/9/2023 cho chị H có vay số tiền 200.000.000 đồng.
  • - Ngày 25/9/2023 cho chị H có vay số tiền 100.000.000 đồng.
  • - Ngày 06/11/2023 cho chị H vay số tiền là 100.000.000đồng
  • - Ngày 15/11/2023 cho chị H vay số tiền là 120.000.000đồng

Như vậy từ ngày 16/9/2023 đến ngày 15/11/2023 chị H vay của chị L tổng số tiền là 770.000.000 đồng, khi vay tiền chị H có làm biên nhận, không thỏa thuận thời hạn vay, khi cần thì chị Loan báo trước cho chị H 01 tháng, lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng.

Việc chị L cho chị H vay tiền trên cơ sở quen biết và là hàng xóm với ông Đ (cha chị H), ông Đ có cam kết bảo lãnh nên chị L mới đồng ý cho chị H vay tiền. Do đó, khoản vay ngày 16/9/2023 và 02 khoản vay ngày 25/9/2023 ông Đ có ký tên bảo lãnh với nội dung “xin bảo lãnh cho chị H vay tiền của chị L và xin chịu trách nhiệm”.

Sau khi vay chị H có đóng lãi được 02 lần số tiền 25.000.000đồng cho các khoản vay trong tháng 9/2023. Đối với 02 khoản vay ngày 06/11/2023 và ngày 15/11/2023 (ông Đ không có ký tên bảo lãnh), chị H chưa đóng lãi. Sau đó, chị L cũng đã liên hệ chị H nhiều lần yêu cầu trả vốn, lãi nhưng chị H cố tình trốn tránh không thực hiện.

Nay chị L yêu cầu:

  • Chị H và ông Đ cùng liên đới trả cho chị L số tiền vốn 550.000.000đồng; Tiền lãi tính từ ngày 08/11/2023 đến ngày xét xử với mức lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 63.605.000đồng (vì số tiền vay này ông Đ có ký tên bảo lãnh);
  • Chị H trả cho chị L số tiền vốn 220.000.000đồng và lãi tính từ ngày 15/11/2023 đến ngày xét xử với mức lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 24.590.000đồng.

Đối với khoản vay 250.000.000đồng theo biên nhận ngày 13/9/2023 (nhằm ngày 29/7/2023 AL), chị L xác định biên nhận này đã bị hủy bỏ không còn giá trị nên không có yêu cầu gì đối với chị H.

Ngoài ra, chị L không còn yêu cầu hay ý kiến gì khác.

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Chị H thừa nhận trong năm 2023 có vay của chị L nhiều lần tiền cụ thể:

  • -Ngày 16/9/2023 (nhằm ngày 02/8/2023AL), vay số tiền 250.000.000đồng.
  • -Ngày 25/9/2023 (nhằm ngày 11/8/2023AL) có vay số tiền 200.000.000đồng.
  • -Ngày 25/9/2023 (nhằm ngày 11/8/202AL) có vay số tiền 100.000.000đồng.
  • -Ngày 06/11/2023 (nhằm ngày 23/9/2023Al), vay số tiền là 100.000.000đồng
  • -Ngày 15/11/2023 (nhằm ngày 03/10/2023Al), vay số tiền là 120.000.000đồng

Tổng cộng chị L cho chị H vay số tiền 770.000.000đồng, lãi suất thỏa thuận 5%/tháng, khi vay tiền chị H có làm biên nhận, sau khi vay chị H có đóng lãi cho chị L đến ngày 16/12/2023 nhưng không xác định được cụ thể số tiền lãi đã đóng.

Các khoản vay theo biên nhận nợ ngày 16/9/2023, 25/9/2023 số tiền 550.000.000đồng, theo yêu cầu của chị L nên ông Đ (cha của chị H) có ký tên bảo lãnh, còn khoản vay ngày 06/11/2023, 15/11/2023 ông Đ không có ký bảo lãnh.

Nay chị H đồng ý trả cho chị L số tiền vốn 770.000.000đồng, không đồng ý trả lãi vì hiện nay điều kiện kinh tế khó khăn không có công việc, thu nhập ổn định và còn phải nuôi con nhỏ.

Đối với việc chị L yêu cầu ông Đ cùng liên đới trả nợ, chị H không đồng ý vì ông Đ ký tên bảo lãnh là do chị L yêu cầu, tiền vay chị H sử dụng vào việc kinh doanh buôn bán quán ăn, chị H và ông Đ không sống chung nhà, ông Đ không có sử dụng khoản tiền này. Do đó, chị H sẽ tự chịu trách nhiệm trả nợ cho chị L, không yêu cầu ông Đ cùng liên đới.

Đối với khoản vay 250.000.000đồng theo biên nhận ngày 13/9/2023 (nhằm ngày 29/7/2023 AL) mà chị L cung cấp đã bị hủy bỏ, không còn giá trị.

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Hữu Đ trình bày:

Ông Đ thừa nhận có biết việc chị H có vay tiền của chị L, ông Đ ký tên bảo lãnh trong các biên nhận vay ngày 16/9/2023, 25/9/2023 là do chị L yêu cầu. Ông Đ xác định số tiền trên do chị H vay và sử dụng cho cá nhân chị H, ông Đ không có sử dụng số tiền này. Do đó, ông Đ không đồng ý liên đới cùng chị H trả số tiền vốn 550.000.000đồng và tiền lãi theo yêu cầu khởi kiện của chị L.

Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

  • Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
  • Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc chị Nguyễn Thị Kim H trả cho chị Phan Thị Tuyết L tổng số tiền vốn vay còn nợ 770.000.000đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1,66%/tháng.

Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật (có bài phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét việc nguyên đơn chị Phan Thị Tuyết L yêu cầu bị đơn chị Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Hữu Đ cùng liên đới trả cho chị L số tiền nợ gốc 550.000.0000đồng; Yêu cầu cá nhân chị H chịu trách nhiệm trả số tiền 220.000.000đồng;.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim H đồng ý trả cho chị L số tiền vốn 770.000.000đồng, không yêu cầu ông Đ cùng liên đới (550.000.000đồng); Bị đơn ông Nguyễn Hữu Đ không đồng ý liên đới cùng chị H trả cho chị L số tiền vốn 550.000.000đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị H thừa nhận thời gian từ tháng 9 đến tháng 11/2023 có vay của chị L nhiều lần tiền tổng cộng là 770.000.000đồng. Như vậy, những tình tiết này đã được các bên thừa nhận, nguyên đơn không cần phải chứng minh. Quá trình giải quyết vụ án, chị H cũng đồng ý trả cho chị L số tiền vốn trên và không yêu cầu ông Đ cùng liên đới.

Chị L cho rằng thông qua mối quan hệ quen biết với ông Đ (cha chị H), được sự ký xác nhận bảo lãnh của ông Đ nên chị L mới đồng ý cho chị H vay tiền, do đó yêu cầu ông Đ liên đới với chị H trả nợ. Tuy nhiên, qua tài liệu chứng cứ và lời trình bày của các đương sự cho thấy chị H vay tiền để kinh doanh buôn bán và trả nợ ngân hàng, chị H cũng không có sống chung với ông Đ. Nguyên đơn cũng không chứng minh được việc ông Đ có sử dụng chung số tiền này với chị H. Do đó, chị L yêu cầu ông Đ có nghĩa vụ liên đới cùng chị H trả số tiền vốn 550.000.000đồng là không có cơ sở chấp nhận.

Như vậy, căn cứ vào các biên nhận vay có đủ cơ sở xác định giữa chị L và chị H có xác lập hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015. Theo đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, nên buộc chị H có nghĩa vụ trả cho chị L số tiền vốn 770.000.000đồng.

[2.2]. Xét việc nguyên đơn yêu cầu chị H trả tiền lãi tính đến ngày xét xử với mức lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 88.195.000đồng. Bị đơn chị H không đồng ý trả lãi vì điều kiện khó khăn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị L thừa nhận sau khi vay chị H có đóng lãi số tiền 25.000.000đồng. Về phía chị H cho rằng có đóng lãi cho chị L đến ngày 16/12/2023 nhưng không xác định được số tiền lãi đã đóng cũng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh.

Tuy nhiên, các đương sự đều thống nhất lãi suất cho vay theo thỏa thuận là 5%/tháng tương đương 60%/năm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ Luật dân sự thì lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm tương đương 1,66%/tháng. Do đó, lãi suất mà các bên thỏa thuận đã vượt quá lãi suất tối đa theo quy định của Bộ Luật dân sự, mức lãi suất vượt quá bị vô hiệu, nên Hội đồng xét xử điều chỉnh lại lãi suất theo quy định với tiền lãi cụ thể được tính như sau:

  • Lần 1: Ngày 16/9/2023 vay 250.000.000đồng, tiền lãi tính từ ngày 16/9/2023 đến ngày 07/6/2024 là 08 tháng 22 ngày x 1,66%/tháng = 36.243.000đồng
  • Lần 2: Ngày 25/9/2023, vay 200.000.000đồng, tiền lãi tính từ ngày 25/9/2023 đến ngày 07/6/2024 là 08 tháng 13 ngày x 1,66%/tháng = 27.999.000đồng.
  • Lần 3: Ngày 25/9/2023, vay 100.000.000đồng, tiền lãi tính từ ngày 25/9/2023 đến ngày 07/6/2024 là 08 tháng 13 ngày x 1,66%/tháng = 14.000.000đồng.
  • Lần 4: Ngày 06/11/2023, vay 100.000.000đồng, tiền lãi tính từ ngày 06/11/2023 đến ngày 07/6/2024 là 07 tháng 01 ngày x 1,66%/tháng = 11.675.000đồng.
  • Lần 5: Ngày 15/11/2023, vay 120.000.000đồng, tiền lãi tính từ ngày 15/11/2023 đến ngày 07/6/2024 là 06 tháng 22 ngày x 1,66%/tháng = 13.412.800đồng.

Tổng số tiền lãi theo quy định chị H phải trả từ ngày vay đến ngày xét xử là 103.329.800đồng (làm tròn số 103.330.000đồng). Số tiền lãi chị L đã nhận là 25.000.000đồng sẽ được trừ vào số tiền lãi mà chị H phải trả. Chị H còn phải trả cho chị L số tiền lãi là 78.330.000đồng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị L. Buộc chị H trả cho L số tiền vốn là 770.000.000đồng, tiền lãi là 78.330.000đồng.

Đối với biên nhận vay ngày 13/9/2023 (nhằm ngày 29/7/2023 AL), không còn giá trị, các đương sự thống nhất hủy bỏ nên không xem xét.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Chị L phải chịu 300.000đồng án phí đối với yêu cầu liên đới không được chấp nhận.
  • Chị H phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của chị L được chấp nhận.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp, như đã nhận định trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Tuyết L.
  2. - Buộc chị Nguyễn Thị Kim H trả cho chị Phan Thị Tuyết L số tiền vốn vay là 770.000.000đồng và tiền lãi là 78.330.000đồng; tổng cộng vốn, lãi là 848.330.000đồng (Tám trăm bốn mươi tám triệu ba trăm ba mươi ngàn đồng).

    - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. - Chị Phan Thị Tuyết L chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng. Số tiền tạm ứng án phí đã nộp 19.009.000đồng theo biên lai số 0004136 ngày 22/4/2024 được khấu trừ vào án phí phải nộp, chị L được nhận lại 18.709.000đồng.

    - Chị Nguyễn Thị Kim H chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 37.450.000đồng (Ba mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án Tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện Kiểm sát ND TP. Sa Đéc;
  • - Chi cục THA Dân sự TP. Sa Đéc;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 42/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bên A yêu cầu bên B trả số tiền vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger