TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 42/2023/DS-ST Ngày: 03 - 11 - 2023 V/v: Đòi lại tài sản là QSDĐ. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hường và ông Lộ Xuân Trịnh Cương
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Lưu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 176/2022/TLST-DS, ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXX-ST ngày 04 tháng 10 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 10/TB-TA ngày 23/10/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Nguyễn M – Sinh năm: 1956; địa chỉ: khu phố H, thị trấn P, N, Ninh Thuận.
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Sỹ N – Sinh năm: 1980; địa chỉ: khu phố H, thị trấn P, N, Ninh Thuận. Có mặt.
Bị đơn: bà Võ Thị Thu T – Sinh năm: 1972; địa chỉ: khu phố I, thị trấn P, N, Ninh Thuận. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn gồm các ông (bà):
- - Nguyễn Sỹ N – Sinh năm 1980 – Có mặt
- - Nguyễn Thị Kim C – Vắng mặt
- - Nguyễn Sỹ K – Vắng mặt
- - Nguyễn Thị T1 – Vắng mặt
Bà Nguyễn Thị Kim C, bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Sỹ K cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Sỹ N tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bị đơn gồm các ông (bà):
- - Phan Thị Bích H – Vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt;
- - Phan Thanh H1 – Vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt;
- - Phan Thị Bích L – Có mặt.
Địa chỉ: khu phố I, thị trấn P, N, Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1.Theo đơn khởi kiện ngày 24-8-2022 và tại phiên tòa địa diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Thửa đất số 81 tờ bản đồ số 03 bản đồ 299 nay là 01 phần thửa đất số 329 tờ bản đồ địa chính số 04 bản đồ địa chính thị trấn P. Tại kết quả đo đạc trích lục văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh huyện N là thửa đất số 329a tờ bản đồ địa chính số 4 thị trấn P, diện tích thực tế theo đo đạc là 1025m². Đất có nguồn gốc là của hợp tác xã G cho hộ gia đình ông Nguyễn M từ sau năm 1990, thời điểm giao khoán Hộ gia đình ông M có 05 người gồm ông Nguyễn M, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Sỹ N, Nguyễn Sỹ K và Nguyễn Thị Kim C. Năm 1993, được Ủy ban nhân dân huyện N công nhận quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 720/QSDĐ ngày 24/5/1993. Do không có điều kiện canh tác nên 1993 thì cho vợ chồng ông H2 (chết) và bà Võ Thị Thu T có đất liền kề mượn để khai phá, sử dụng. Việc cho mượn chỉ nói miệng và thỏa thuận thời hạn 03 năm lấy lại. Hết thời hạn 03 năm bà T tiếp tục mượn canh tác thêm một thời gian nữa được gia đình đồng ý cho mượn. Trong thời gian cho mượn, bà T lấy đất chuyển nhượng cho ông Phạm Văn T2. Năm 2014 ông Nguyễn M có đơn khiếu nại lên UBND thị trấn P để giải quyết đòi lại đất, đồng thời giữa bà T bà ông T2 có tranh chấp với nhau về thửa ruộng này. Ngày 25/5/2014 UBND thị trấn P mời các bên có liên quan đến hòa giải, bà T không đồng ý trả lại đất cho gia đình ông M và ngỏ ý muốn tiếp tục mượn đất để canh tác, không sang nhượng cho ai, sự việc hòa giải không thành. Ngày 08/4/2014 UBND thị trấn P tiếp tục mời các bên liên quan đến hòa giải nhưng bà T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Năm 2015, ông M có nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước nhưng không được giải quyết và trả lại đơn cho ông Nguyễn M. Do không hiểu biết pháp luật ông M nhận lại đơn và tiếp tục khiếu nại đến UBND thị trấn P. Ngày 07/7/2022 UBND thị trấn P tiếp tục hòa giải nhưng không thành. Ông Nguyễn M khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn bà Võ Thị Thu T phải trả lại thửa đất số 81 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 nay là thửa 329a tờ bản đồ địa chính số 4 bản đồ địa chính thị trấn P có diện tích theo kết quả đo đạc thực tế là 1025m² cho Hộ gia đình ông Nguyễn M.
2.Bị đơn bà Võ Thị Thu T trình bày:
Bà T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn M vì những lý do sau: Bà T không mượn đất của ông Nguyễn M, nguồn gốc đất là do Hợp tác xã giao khoán cho vợ chồng bà 02 thửa, đó là thửa 66, 75 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299. Đất đã được UBND huyện N công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ là 128 cấp ngày 15/5/1993. Thửa đất đang tranh chấp với ông Nguyễn M chính là thửa đất số 75 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 đã được công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà. Vợ chồng bà đã khai phá, canh tác sử dụng từ năm 1990 cho đến nay.
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ông Nguyễn Sỹ N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn thống nhất như đã trình bày, không bổ sung.
- Bà Phan Thị Bích L thống nhất lời trình bày của bà T, không bổ sung thêm.
4.Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa được tóm tắt như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 6, Điều 166, Điều 183, Điều 184 của Bộ luật Dân sự 2015;
Khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn M. Buộc hộ bà Võ Thị Thu T phải trả lại quyền sử dụng đất thửa đất số thửa đất số 81 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện N cấp ngày 24/5/1993, số vào sổ 720/QSDĐ. Nay là thửa đất số 329a tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P có diện tích là 1025m² cho hộ gia đình ông Nguyễn M.
Buộc hộ gia đình ông Nguyễn Mới p hoàn trả cho hộ bà Võ Thị Thu T số tiền 56.631.250 đồng.
Về án phí: Bà Võ Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thủ tục tố tụng: Thửa đất số 81 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H3 gia đình ông Nguyễn M. Ông Nguyễn M khởi kiện yêu cầu bà T là người đang quản lý thửa đất phải trả lại thửa đất cho hộ gia đình ông Nguyễn M do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Do đó, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật” quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn M buộc bà T phải giao trả lại thửa đất số 81 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 nay là thửa số 329a tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P thấy:
[2.1].Về diện tích đất tranh chấp: Các đương sự tranh chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 81 tờ bản số 3 bản đồ 299 được Ủy ban nhân dân huyện N công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Nguyễn M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 720/QSDĐ ngày 24/5/1993. Theo kết quả so sánh từ tờ bản đồ 299 sang tờ bản đồ địa chính hiên nay là một phần thửa đất số 329 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P. Kết quả đo đạc trên thực tế theo trích lục số 1505 ngày 26/7/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đia – Chi nhánh N tạm đặt là thửa số 329a tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P, diện tích là 1025m². Hiện nay, thửa đất này do bà T trực tiếp canh tác, sử dụng.
[2.2]. Bị đơn bà Võ Thị Thu T trình bày căn cứ để bà T sử dụng thửa đất này là do Hợp tác xã giao khoán cho vợ chồng bà T và đã được Ủy ban nhân dân huyện N công nhận quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ là 128 cấp ngày 15/5/1993, chính là thửa đất số 75 tờ bản đồ 299 có diện tích là 1012m². Bà T có xuất trình bày giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chứng minh cho yêu cầu phản đối của bà T là có căn cứ.
[2.3]. Tại Công văn số: 96/UBND – KT ngày 16/3/2023 về việc “Cung cấp thông tin cho Tòa án” của Ủy ban nhân dân thị trấn P xác định thửa đất số 75 và 66 tờ bản đồ 299 số 3 cấp ngày 15/5/1993 nay tương ứng với thửa đất số 310 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P có diện tích theo sổ mục kê là 2018m². Tại trích lục số 1505 ngày 26/7/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh N, đã trích lục thửa đất số 310 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P có diện tích đo đạc thực tế là 2250m², thực tế bà T đang canh tác, sử dụng. Như vậy, bà T hiện tại đang sử dụng 03 thửa đất đó là: 75 và 66 tờ bản đồ 299 số 3 cấp ngày 15/5/1993 nay tương ứng với thửa đất số 310 tờ bản đồ số 4 được công nhận quyền sử dụng đất cho bà T và thửa đất số 81 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 nay là thửa số 329a tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P đã được công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Nguyễn M. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định bà T cho rằng thửa đất đất đang tranh chấp chính là thửa đất số 75 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 đã được Công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà vào năm 1993 là không có chính xác.
[2.4]. Ông Nguyễn M trình bày cho bà T mượn đất thời hạn 03 năm nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho bà T mượn đất. Mặt khác, lời trình bày của ông Nguyễn M trong giai đoạn tố tụng của Tòa án mâu thuẫn với chính lời trình bày của ông Nguyễn M tại biên bản hòa giải ngày 25/3/2014 của UBND thị trấn P, ông M trình bày là do hoàn cảnh khó khăn nên thỏa thuận cho vợ chồng bà T khai phá. Như vậy, việc ông Nguyễn M trình bày cho bà T mượn 03 năm là không có căn cứ.
[2.5]. Từ sự phân tích trên có đủ cơ sở xác định: Thửa đất số 81 tờ bản số 3 bản đồ 299 được Ủy ban nhân dân huyện N công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Nguyễn M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 720/QSDĐ ngày 24/5/1993 có nguồn gốc được Hợp tác xã cấp cho hộ gia đình ông Nguyễn M. Do không có đủ điều kiện canh tác nên vợ chồng bà T là người sử dụng đất liền kề khai phá sử dụng và không bị chủ đất là hộ gia đình ông Nguyễn M phản đối. Trường hợp sử dụng đất của bà T được xác định là chiếm hữu công khai, không có căn cứ pháp luật quy định tại Điều 183 của Bộ luật Dân sự 2015.
[2.6]. Xét việc chiếm hữu công khai, không có căn cứ pháp luật không được xem là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu theo định tại Điều 184 của Bộ luật Dân sự. Mặt khác, chủ sử dụng đất là Hộ gia đình ông Nguyễn M đã đưa ra chứng cứ là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứng minh việc bà T không có quyền chiếm hữu đối với thửa đất trên. Bà T cũng không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh có việc chuyển quyền sử dụng từ hộ gia đình ông Nguyễn M sang cho bà Võ Thị Thu T. Như vậy, quyền sử dụng đất thửa đất số 81 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 nay là thửa số 329a tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P tính đến thời điểm hiện nay vẫn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ gia đình ông Nguyễn M. Do đó, ông Nguyễn M khởi kiện yêu cầu bà T là người đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật phải trả lại thửa đất số 81 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 cho hộ gia đình ông Nguyễn M là có căn cứ được chấp nhận.
[2.7]. Xét việc chủ sử dụng đất là Hộ gia đình ông Nguyễn M có lỗi để bà T khai phá sử dụng trong một khoảng thời gian dài và không có ý kiến phản đối. Quá trình sử dụng đất, bà T đã cải tạo, đầu tư vào đất, gìn giữ đất như tài sản của bà T, H3 gia đình ông Nguyễn M biết mà không phản đối nên khi buộc bà T trả lại đất thì Hộ gia đình ông Nguyễn M có nghĩa vụ hoàn trả chi phí về gìn giữ, cải tạo, đầu tư vào đất cho bà T mới đảm bảo công bằng. Tại phiên tòa, các bên không thỏa thuận được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự quy định tại Điều 3 và Lẽ công bằng quy định tại Điều 6 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để xem xét và buộc H3 gia đình ông Nguyễn Mới p có nghĩa vụ hoàn trả công sức khai phá, gìn giữ, cải tạo đất cho bà T 50% giá trị đất tại thời điểm xét xử là đảm bảo công bằng cho các bên. Tại Biên bản định giá tài sản xác định giá trị quyền sử dụng đất là 113.262.500 đồng, do đó Hộ gia đình ông Nguyễn M có nghĩa vụ liên đới trả công sức gìn giữ, cải tạo, đầu tư vào đất cho bà Võ Thị Thu T số tiền 113.262.500 đồng/2= 56.631.250 đồng. Hộ gia đình ông Nguyễn M được giao đất có 05 người gồm: vợ chồng ông Nguyễn M và bà Nguyễn Thị T1 cùng 03 người con là Nguyễn Sỹ N, Nguyễn Sỹ K và Nguyễn Thị Kim C, mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn lại cho bà T1 số tiền là: 56.631.250 đồng/05 người = 11.326.250 đồng.
[3]. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản đối với phần đất đang tranh chấp, đo đạc cấp trích lục làm cơ sở giải quyêt vụ án. Tổng chi phí tố tụng là 6.536.000 đồng. Tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng, đã nộp đủ.
[4]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng.
[5]. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết nội dung vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- - Khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 3, Điều 6, Điều 165, Điều 166, Điều 181 và Điều 183 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Điều 203 của Luật Đất đai 2013.
- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, ngày 30/12/2016 của Ủy ban T3;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng của ông Nguyễn M đối với bà Võ Thị Thu T.
Buộc bà Võ Thị Thu T và các con gồm: Phan Thị Bích L, Phan Thị Bích H và Phan Thanh H1 phải trả lại thửa đất số 81 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện N cấp ngày 24/5/1993, số vào sổ 720/QSDĐ. Nay là thửa đất số 329a tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P có diện tích là 1025m² cho vợ chồng ông Nguyễn M, bà Nguyễn Thị T1 cùng 03 người con là Nguyễn Sỹ N, Nguyễn Sỹ K và Nguyễn Thị Kim C. Diện tích, vị trí đất được xác định theo trích lục số 1505 ngày 26/7/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện N kèm theo bản án.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn M, bà Nguyễn Thị T1 cùng 03 người con là Nguyễn Sỹ N, Nguyễn Sỹ K và Nguyễn Thị Kim C có nghĩa vụ liên đới trả công sức gìn giữ, cải tạo, đầu tư làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị Thu T cùng các con là Phan Thị Bích H, Phan Thị Bích L và Phan Thanh H1 số tiền là 56.631.250 đồng. Chia phần cụ thể, ông Nguyễn M, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Sỹ N, ông Nguyễn Sỹ K và bà Nguyễn Thị Kim C mỗi người có nghĩa vụ trả số tiền là 11.326.250 đồng cho bà Võ Thị Thu T cùng các con.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Về án phí sơ thẩm: Bà Võ Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
* Về chi phí tố tụng: ông Nguyễn M tự nguyện chịu chi phí tố tụng là 6.536.000 đồng và đã nộp đủ.
* Về quyền kháng cáo: các đương sự có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (03/11/2023). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 42/2023/DS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 42/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi lại TS là QSDĐ
