Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 419/2024/DS-PT

Ngày: 29/8/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất và yêu

cầu bồi thường thiệt hại”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp

Bà Võ Thị Hồng Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 216/2024/TLPT-DS, ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 307/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1957; địa chỉ cư trú: Tổ C, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Tổ H, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; địa chỉ cư trú: Tổ C, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có đơn đề nghị vắng mặt.
    • Bà Lê Thị Xuân H, sinh năm 1956; địa chỉ cư trú: Tổ F, khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
    • Anh Ngô Văn H1, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: Tổ C, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt không có lý do.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Quốc D là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 18-11-2022, quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà nguyên đơn ông Ngô Văn T trình bày:

Ngày 25-10-2020 âm lịch vợ chồng ông có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quốc D 01 phần đất bờ ao thuộc thửa 87, tờ bản đồ 41 toạ lạc ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh với diện tích ngang 12m x dài khoảng 40m, không tiến hành đo đạc đất thực tế. Giá chuyển nhượng phần đất là 90.000.000 đồng. Các bên có lập giấy tay chuyển nhượng đất do vợ chồng ông ký tên giao cho ông D giữ 01 bản chính. Ông D đã giao số tiền 70.000.000 đồng, còn nợ 20.000.000 đồng hẹn khi nào làm thủ tục sang tên thì ông D sẽ trả hết. Vợ chồng ông không cấn trừ số tiền 40.000.000 đồng của anh Ngô Văn H1 (con trai ruột ông) nợ ông D vào số tiền chuyển nhượng đất như ông D trình bày.

Đến năm 2021 vợ chồng ông có đến cơ quan Nhà nước hỏi về thủ tục tách thửa sang tên cho ông D thì được trả lời là phần đất chuyển nhượng là đất ao, không đủ diện tích 1000m² để tách thửa đất nên không làm thủ tục sang tên cho ông D được. Vì khi lập giấy tay chuyển nhượng đất thì vợ chồng ông và ông D đều không biết được diện tích bao nhiêu mới đủ điều kiện tách thửa.

Ngày 19-6-2022 ông D tự ý đến cưa hết 52 cây tràm hơn 03 năm tuổi trên phần đất các bên thoả thuận chuyển nhượng mặc dù vợ chồng ông can ngăn. Cây tràm này là do vợ chồng ông trồng, cho đến nay vẫn chưa giao đất và cây tràm cho ông D.

Quá trình giải quyết vụ án, ông thống nhất với kết quả đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp. Nay ông yêu cầu Toà án huỷ giấy tay chuyển nhượng phần đất bờ ao thuộc 01 phần thửa đất 87, tờ bản đồ 41 toạ lạc ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh đã ký kết giữa ông và ông D, giấy tay không ghi rõ thời gian chuyển nhượng. Vợ chồng ông đồng ý trả lại cho ông D số tiền 80.000.000 đồng đồng thời yêu cầu ông D bồi thường cho vợ chồng ông số tiền 10.400.000 đồng mà ông D đã tự ý chặt bỏ 42 cây tràm trên phần đất tranh chấp.

Ngoài ra vào ngày 15-11-2021, vợ chồng ông có vay của bà H số tiền 200.000.000 đồng và giao cho bà H giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng sử dụng các thửa đất 41,51,87, tờ bản đồ 41 toạ lạc ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh để làm tin. Trong vụ án này, vợ chồng ông không yêu cầu giải quyết khoản vay này và việc bà H đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn Quốc D trình bày: Năm 2019 ông có nhận chuyển nhượng 01 phần đất có diện tích ngang 12m x dài 51m thuộc thửa 87 tờ bản đồ 41 toạ lạc ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh của ông T, bà C. Khi mua đất ông, anh Ngô Văn H1, bà C có cầm thước đo đạc phần đất chuyển nhượng. Giá chuyển nhượng phần đất là 150.000.000 đồng, ông đã trả được 90.000.000 đồng và trừ tiền anh H1 còn nợ ông số tiền 40.000.000 đồng vào tiền chuyển nhượng, ông còn nợ lại số tiền 20.000.000 đồng khi nào làm thủ tục sang tên xong ông sẽ trả tiền đủ.

Ông và ông T có lập 01 bản chính giấy tay sang nhượng đất, không ghi rõ thời gian chuyển nhượng do ông giữ bản chính. Số tiền chuyển nhượng trong giấy tay chuyển nhượng bị sửa từ “110.000.000” đồng thành số tiền “150.000.000” đồng ông không biết ai sửa. Tại thời điểm ký giấy tay chuyển nhượng các bên đều không biết quy định về diện tích tách thửa là bao nhiêu. Giữa các bên không có văn bản thể hiện việc có cấn trừ số tiền 40.000.000 đồng anh H1 nợ ông vào tiền chuyển nhượng đất.

Từ khi làm giấy tay đến nay thì ông T, bà C vẫn đang sử dụng đất, chưa bàn giao đất cho ông và không giao giấy tờ đất để ông làm thủ tục sang tên nên đến năm 2021 ông mới tức giận vào cưa 42 cây tràm trên phần đất tranh chấp. Cây tràm là do ông T, bà C trồng, lúc thoả thuận chuyển nhượng các cây tràm còn nhỏ chưa có giá trị. Quá trình giải quyết vụ án, ông thống nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá về tài sản tranh chấp.

Nay ông đồng ý huỷ giấy tay sang nhượng đất với ông T, buộc vợ chồng ông T, bà C trả cho ông số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã thoả thuận 150.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại số tiền 150.000.000 đồng, tổng cộng là 300.000.000 đồng do ông T, bà C không tiếp tục chuyển nhượng đất. Trường hợp ông T, bà C không giao đủ số tiền 300.000.000 đồng thì ông T, bà C phải làm thủ tục sang tên phần đất chuyển nhượng cho ông.

Tại phiên toà ông trình bày số tiền chuyển nhượng đất ông đã giao cho ông T, bà C là 90.000.000 đồng. Ông không đồng ý bồi thường số tiền 10.400.000 đồng đã chặt cây tràm của ông T, bà C.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C: Bà là vợ của ông T, bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông T. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D trong vụ án này.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Xuân H trình bày: Năm 2021 vợ chồng ông T, bà C vay của bà số tiền 200.000.000 đồng và có đưa bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS03060 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Ngô Văn T, bà Nguyễn Thị C vào ngày 24-11-2016 đối với các đất 41,51,87 tờ bản đồ 41 toạ lạc ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh của ông T, bà C để làm tin. Hiện nay bà đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.

Bà không yêu cầu giải quyết tiền vay đối với ông T, bà C trong vụ án này và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của các đương sự.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn H1 đã được Toà án tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H1 không đến Toà làm việc và không gửi văn bản trình bày ý kiến về vụ kiện.

Tại bản án số 53/2024/DS-ST ngày 14/05/2024 của TAND huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” đối với ông Nguyễn Quốc D.
    • - Tuyên bố giấy tay sang nhượng đất (không ghi ngày tháng năm) được ký kết giữa bên chuyển nhượng ông Ngô Văn T và bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Quốc D đối với phần đất có diện tích 482,3m² thuộc 01 phần thửa đất 87, tờ bản đồ 41 toạ lạc ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh vô hiệu. (Kèm theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất số 7023/SĐHT của Văn phòng đăng ký tỉnh T–Chi nhánh C1 duyệt ngày 18-8-2023).
    • - Buộc ông Nguyễn Quốc D có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại 42 cây tràm cho ông Ngô Văn T, bà Nguyễn Thị C với số tiền 10.400.000 (Mười triệu, bốn trăm nghìn) đồng.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc D về việc buộc ông Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ hoàn trả lại tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận của ông D.
    • Buộc ông Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Quốc D số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận là 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng.
    • Sau khi đối trừ nghĩa vụ các bên, buộc ông Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Quốc D số tiền còn lại là 79.600.000 (Bảy mươi chín triệu, sáu trăm nghìn) đồng.
  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc D đối với yêu cầu khởi kiện buộc ông Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ hoàn trả lại tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại với số tiền chênh lệch là 210.000.000 (Hai trăm mười triệu) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/5/2024 ông Nguyễn Quốc D kháng cáo, không đồng ý bản án sơ thẩm, bởi vì số tiền ông đưa cho ông T, bà C từ năm 2019 cho đến nay, không tính lãi cho ông, ông không đồng ý bồi thường số tiền 10.400.000 đồng vì các cây ông chặt nằm trong quyền sử dụng đất của ông, ông đã thỏa thuận mua bán bằng giấy tay.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn H1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do; bà Nguyễn Thị C, bà Lê Thị Xuân H vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án cụ thể:

Ông T và ông D thống nhất tuyên bố giấy tay sang nhượng đất (không ghi ngày tháng năm) được ký kết giữa bên chuyển nhượng ông Ngô Văn T và bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Quốc D đối với phần đất có diện tích 482,3m² thuộc 01 phần thửa đất 87, tờ bản đồ 41 toạ lạc ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.

Sau khi thỏa thuận khấu trừ số tiền bồi thường thiệt hại 42 cây tràm là 10.400.000 đồng cho ông T thì ông T và bà C có nghĩa vụ hoàn trả cho ông D số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận là 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng.

Ngoài ra các đương sự không còn thỏa thuận gì khác.

[3] Về chi phí tố tụng:

  • + Ông Ngô Văn T, bà Nguyễn Thị C phải chịu chi phí giám định là 6.820.000 (Sáu triệu tám trăm hai mươi nghìn) đồng, đã nộp xong.
  • + Ông Ngô Văn T, bà Nguyễn Thị C phải chịu chi phí đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ là 2.721.000 (Hai triệu, bảy trăm hai mươi mốt nghìn) đồng, đã nộp xong.
  • + Ông Nguyễn Quốc D phải chịu chi phí đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ là 2.721.000 (Hai triệu, bảy trăm hai mươi mốt nghìn) đồng. Do ông Ngô Văn T đã nộp tạm ứng chi phí nên buộc ông Nguyễn Quốc D hoàn trả số tiền 2.721.000 (Hai triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn) đồng cho ông Ngô Văn T.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho ông D, tuy nhiên ông bà là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
  • - Ông Nguyễn Quốc D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với việc tuyên bố giấy tay sang nhượng đất vô hiệu.

[5] Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và sửa bản án sơ thẩm.

[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ; sửa bản án sơ thẩm.

[7] Án phí phúc thẩm: Ông D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
    • - Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
  2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
    • Tuyên bố giấy tay sang nhượng đất (không ghi ngày tháng năm) được ký kết giữa bên chuyển nhượng ông Ngô Văn T và bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Quốc D đối với phần đất có diện tích 482,3m² thuộc 01 phần thửa đất 87, tờ bản đồ 41 toạ lạc ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
    • Ông Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Quốc D số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận là 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng.
    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  3. Về chi phí tố tụng:
    • + Ông Ngô Văn T, bà Nguyễn Thị C phải chịu chi phí giám định là 6.820.000 (Sáu triệu tám trăm hai mươi nghìn) đồng, đã nộp xong.
    • + Ông Ngô Văn T, bà Nguyễn Thị C phải chịu chi phí đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ là 2.721.000 (Hai triệu, bảy trăm hai mươi mốt nghìn) đồng, đã nộp xong.
    • + Ông Nguyễn Quốc D phải chịu chi phí đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ là 2.721.000 (Hai triệu, bảy trăm hai mươi mốt nghìn) đồng. Do ông Ngô Văn T đã nộp tạm ứng chi phí nên buộc ông Nguyễn Quốc D hoàn trả số tiền 2.721.000 (Hai triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn) đồng cho ông Ngô Văn T.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Ông Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị C được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Ông Nguyễn Quốc D phải chịu 300.000 đồng đồng tiền án phí, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí khởi kiện ông D đã nộp 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng tại Biên lai thu số 008767 ngày 16-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, hoàn trả cho ông D 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Quốc D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu số: 0009336, ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - CCTHADS huyện Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 419/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại

  • Số bản án: 419/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger