|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 419/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 12 - 2023 V/v tranh chấp xin ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Hận
Bà Lê Trường An
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 689/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 422/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhật L, sinh năm 1975 (Xin xét xử vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ú (Nguyễn Kim Đ), sinh năm 1974 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Nhật L trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Ú kết hôn vào năm 1994, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Thời gian chung sống do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, hiện đã ly thân với nhau khoảng 09 năm, xét thấy hôn nhân không thể tiếp tục vì mục đích hôn nhân không đạt được. Nay ông yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ú (Nguyễn Kim Đ)
- Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1994 và Nguyễn Tuyết M, sinh năm 2000. Hiện các con đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Ông L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Ông L xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đồng thời, ngày 07/11/2023 ông Nguyễn Nhật L có yêu cầu Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt trong tất cả các phiên họp, phiên toà do điều kiện đi làm ăn xa nên không đảm bảo thời gian tham gia tố tụng tại Toà án theo triệu tập.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ú (Nguyễn Kim Đ) quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng bà Ú vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Nhật L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Ú (Nguyễn Kim Đ) hiện đang cư trú tại ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là bà Nguyễn Thị Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, ông Nguyễn Nhật L yêu cầu xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L và bà Ú.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân của ông Nguyễn Nhật L và bà Nguyễn Thị Ú là tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 1994 nên hôn nhân của ông L và bà Ú là hợp pháp. Nguyên đơn ông Nguyễn Nhật L cho rằng thời gian chung sống vợ chồng không còn tình cảm do bất đồng quan điểm và tính tình không phù hợp, hiện ông và bà Ú đã sống ly thân với nhau khoảng 09 năm, xét thấy hôn nhân không thể tiếp tục vì mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Út. Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến phản hồi, điều đó cho thấy bà Ú không có thiện chí để hàn gắn với ông L. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của ông L và bà Ú đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Nhật L, cho ông L ly hôn với bà Nguyễn Thị Ú là phù hợp.
[3] Về con chung: Đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Nhật L xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà Nguyễn Thị Ú thì vắng mặt và không có ý kiến gì về phần tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về phần tài sản, nợ chung thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
2
[5] Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Nhật L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 53 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật L, cho ông Nguyễn Nhật L ly hôn với bà Nguyễn Thị Ú (Nguyễn Kim Đ).
- - Về án phí: Ông Nguyễn Nhật L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông L đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0004854 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Yến Phương |
3
Bản án số 419/2023/HNGĐ-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 419/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn do mâu thuẫn gia đình, vợ chồng sống ly thân nhiều năm.
