Hệ thống pháp luật
Bản án

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 419/2025/HS-ST

Ngày: 16/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Cửu Long

2. Ông Phạm Văn Phước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tiếp đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 336/2025/HSST ngày 19 tháng 05 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 426/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Văn M, sinh năm 1975 tại tỉnh Hậu Giang; Nơi thường trú: Ấp M, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nơi ở hiện tại: C Đường D, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tài xế; Cha: Lê Văn N (chết); Mẹ: Trần Thị N1 (chết); Vợ: Không có;Con: 02 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 1998; Anh chị em: Gia đình có 04 người, bị cáo là con thứ 03; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/8/2024, bị cáo có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần T1;

Trụ sở: O Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hoàng K, sinh năm 1996;

Địa chỉ: 2 L, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 31/07/2024, Lê Văn M (là tài xế Công ty TNHH T2) được giao nhiệm vụ giao xi măng tại kho tòa BE6, đường N, Lô B thuộc chung cư V, đường P, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình giao xi măng, M có thuê Lâm P đi cùng xe để phụ bốc xếp xi măng đến tòa BE6, đường N, Lô B thuộc chung cư V, đường P, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để bàn giao cho công trình đang xây dựng. Khi đến địa chỉ trên do chưa đến giờ giao xi măng nên M dừng xe lại. Lúc này, Lâm P nói với M ở trong nhà kho thuộc công trình này có nhiều cuộn dây điện, M nghe vậy liền nảy sinh ý định lấy trộm các cuộn dây điện nói trên về bán lấy tiền tiêu xài nên rủ P cùng thực hiện. M nói P ở lại xe và cảnh giới cho M. Mứng tắt máy xe ô tô tải, sau đó lấy kìm cộng lực để sẵn trên xe rồi vào đến trước kho vật tư của nhà thầu Vân Khánh. Lúc này anh Nguyễn Thanh A và Trần Hoài T (bảo vệ Công trình Vinhome G) phát hiện M có hành vi khả nghi nên theo dõi, đứng cách Mứng khoảng 20m và quan sát thấy M đang dùng kìm cộng lực cắt sợi dây khóa cửa kính của kho vật tư Vân K1 rồi dùng tay kéo sợi dây khóa ra, tiếp tục mở cửa lẻn vào bên trong kho. Mứng dùng tay mang 02 lần, mỗi lần 02 cuộn dây điện LIOA màu vàng và lần thứ ba là 01 cuộn dây điện LIOA màu đỏ từ trong góc tường rồi đem ra gần cửa kính. Khi thấy M đang trốn trong góc tường thì anh Thanh A và anh T xông vào kho và giữ M lại. Khi bị giữ lại, M thừa nhận là vào kho vật tư để lấy trộm dây điện nên đã đưa M ra phòng bảo vệ công trình Vinhome G lấy thông tin và đưa M lên Công an phường L để làm rõ nội dung sự việc. Còn P sau khi thấy M bị bảo vệ bắt giữ đã bỏ trốn khỏi hiện trường.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Lê Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết luận định giá tài sản 154-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 02/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 cuộn dây điện hiệu LIOA electric 4mm2, lõi bằng đồng, vỏ nhựa, màu đỏ dài 85m có giá trị 2.184.585 đồng; 01 cuộn dây điện hiệu LIOA electric 6mm2, lõi bằng đồng, vỏ nhựa, màu vàng dài 75m có giá trị 2.755.425 đồng; 03 cuộn dây điện hiệu LIOA electric 6mm2, lõi bằng đồng, vỏ nhựa, màu vàng dài 100m (tổng 300 mét) có giá trị 11.021.710 đồng. Tổng giá trị là 15.961.710 (mười lăm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm mười) đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 cuộn dây điện hiệu LIOA, lõi bằng đồng, vỏ nhựa màu đỏ, dài 85 mét; 01 cuộn dây điện hiệu LIOA, lõi bằng đồng, vỏ nhựa màu vàng, dài 75 mét; 03 cuộn dây điện hiệu LIOA, lõi bằng đồng, vỏ nhựa màu vàng, mỗi cuộn dài 100 mét (đã trả lại cho bị hại);

- 01 kìm cộng lực, 01 ổ khoá dây màu vàng;

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Hoàng K - đại diện Công ty Cổ phần T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 322/CT-VKSTPTĐ ngày 13/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Lê Văn M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thừa nhận việc bị truy tố, không kêu oan và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn M về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 01 (một) năm đến 01(một) năm 03 (ba) tháng tù.

Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa.

Bị cáo Lê Văn M nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị hại vắng mặt. Xét việc bị hại vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn M phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:

Vào khoảng 03 giờ 15 phút ngày 31/07/2024 tại tòa BE6, đường N, Lô B thuộc chung cư V, đường P, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu là Công ty Cổ phần T1, Lê Văn M đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 cuộn dây điện hiệu LIOA, lõi bằng đồng, vỏ nhựa màu đỏ, dài 85 mét; 01 cuộn dây điện hiệu LIOA, lõi bằng đồng, vỏ nhựa màu vàng, dài 75 mét; 03 cuộn dây điện hiệu LIOA, lõi bằng đồng, vỏ nhựa màu vàng, mỗi cuộn dài 100 mét của Công ty Cổ phần T1. Tổng giá trị tài sản bị cáo Lê Văn M chiếm đoạt là 15.961.710 (mười lăm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm mười) đồng.

Hành vi của Lê Văn M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Văn M về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 15.961.710 (mười lăm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm mười) đồng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phạm Hoàng K (đại diện Công ty Cổ phần T1) đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về vật chứng vụ án:

- 01 cuộn dây điện hiệu LIOA, lõi bằng đồng, vỏ nhựa màu đỏ, dài 85 mét; 01 cuộn dây điện hiệu LIOA, lõi bằng đồng, vỏ nhựa màu vàng, dài 75 mét; 03 cuộn dây điện hiệu LIOA, lõi bằng đồng, vỏ nhựa màu vàng, mỗi cuộn dài 100 mét. Đã trả lại cho bị hại, Hội đồng xét xử ghi nhận.

- 01 kìm cộng lực, 01 ổ khoá dây màu vàng. Xét thấy đây là vật chứng mà bị cáo dùng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần phải tịch thu tiêu huỷ.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”,
  • + Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn M 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
  • Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) kìm cộng lực, 01 (một) ổ khoá dây màu vàng.
  • (Theo Phiếu nhập kho số NK25/355C ngày 20/5/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Buộc bị cáo Lê Văn M nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
  • Bị cáo Lê Văn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 419/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 419/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger