Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 419/2025/HS-PT

Ngày 09 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Trí Tuấn

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai (bằng hình thức trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số 853/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Thị Thúy L; Do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2024/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo: Đặng Thị Thúy L, sinh ngày: 19/11/1985; Nơi ĐKTT: ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Số A, đường L, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Mua bán; Con ông Đặng Văn T (chết) và bà Trần Thị Kim H; Anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1988; Chồng Hồ Tấn T1 (đã ly hôn); Nguyễn Thành L1 (đã ly hôn); Trương Công T2 (sống chung như vợ chồng); Con có 04 người, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2022 cho đến nay. (có mặt)

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Đặng Thị Thúy L: Luật sư Hồ Hoài N – Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)

Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Nguyễn Hòa T3. (có mặt)

- Người bị hại: Ông Đỗ Đức T4, sinh năm 1960. (vắng mặt)

Địa chỉ: số B A, đường T, phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Văn Ú, sinh năm 1973. (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp L, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

  2. Ông Dư Đình C, sinh năm 1964. (vắng mặt)
  3. Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1966. (vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: số B, đường B, khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện theo ủy quyền của ông Dư Đình C và bà Hồ Thị H1: Ông Phạm Hiền T5, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp R, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo văn bản ủy quyền ngày 25 tháng 3 năm 2024. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C và bà H1: Luật sư Đặng Thị Thanh T6 thuộc Đoàn luật sư thành phố H. (có mặt)

Địa chỉ: khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

4/. Văn phòng công chứng Nguyễn Khánh

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Ngọc K, chức vụ: Trưởng Văn phòng C3.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Phí Quang L2, sinh năm 1973. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số B đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng năm 2018, vợ chồng ông Dư Đình C sinh năm 1964 và bà Hồ Thị H1 sinh năm 1966, cùng trú: Khu phố B, thị trấn D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang có vay của Đặng Thị Thúy L sinh ngày 19/11/1985, thường trú: ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng), lãi suất 1%/tháng. Để đảm bảo khoản vay trên, ông C và bà H1 có lập hợp đồng ủy quyền (có công chứng) cho L 02 thửa đất: Thửa đất có giấy chứng nhận BV959413, thửa đất số 214, tờ bản đồ 12, diện tích: 3.130,70m², công chứng vào ngày 15/6/2018 (bên ký nhận ủy quyền là Phạm Văn V được L cùng bảo lãnh, V ký theo sự yêu cầu của L) và Thửa đất có giấy chứng nhận số BV959414, thửa số 216, tờ bản đồ 12, diện tích 2.561,40m², công chứng ủy quyền vào ngày 20/8/2018. Hai thửa đất đều tọa lạc tại ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Sau khi nhận được ủy quyền 02 thửa đất trên, L đem cả 02 thửa đất làm hợp đồng chuyển nhượng cho Nguyễn Anh T7 và Nguyễn Văn M số tiền 12.000.000.000 đồng (Mười hai tỷ đồng), khi ông C và bà H1 cần chuộc lại giấy tờ đất thì L không trả lại được (hiện tại 02 thửa đất này vẫn do ông C bà H1 quản lý, sử dụng).

Vào đầu tháng 11 năm 2018, Đặng Thị Thúy L có nợ nhiều người nên đã hỏi mượn bà Hồ Thị H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL752818, thửa số 52, tờ bản đồ số 88, diện tích 259,4m², tại đường C, Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (thửa đất này do ông C đứng tên sở hữu, là tài sản chung của vợ chồng ông C, bà H1) để đi vay số tiền 5 tỷ đồng, hẹn sau 02 tháng sẽ trả lại cho bà H1 và bà H1 đồng ý cho mượn, tuy nhiên, ông C không biết việc này. Sau đó, bà H1 đã đưa cho L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên. Ngày 08/11/2019, L đem hồ sơ đến Phòng C4 P (nay là Văn phòng C3) để làm thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền thửa đất trên từ ông C, bà H1 cho L. Lam đã đưa hồ sơ cho Tăng Phước T8 là chuyên viên Phòng Công chứng tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và soạn thảo hợp đồng ủy quyền. T8 trình bày: đến giai đoạn lấy chữ ký thì L nói với T8 là đã liên hệ trước với ông Trương Thanh D – Công chứng viên và yêu cầu T8 đưa hồ sơ cho L để đem đi gặp trao đổi với ông D (do ông D không có ở văn phòng). Do thấy L thường xuyên gặp mặt và có quen biết với ông D nên T8 đã tin tưởng đưa hợp đồng cho L đem ra khỏi phòng công chứng. Đến chiều cùng ngày, L đem hợp đồng ủy quyền đến Văn phòng công chứng thì đã có đầy đủ chữ ký các bên và gặp T8 để hoàn chỉnh hồ sơ đóng dấu và nhận hợp đồng ủy quyền. Tuy nhiên, L trình bày: việc lấy chữ ký của ông C, bà H1 là do Nguyễn Thanh C1 là người của Văn phòng công chứng thực hiện, L chỉ dẫn C1 đến nhà bà H1 và chứng kiến việc bà H1 ký vào hợp đồng, lúc này, ông C không có ở nhà nên L giao việc lấy chữ ký của ông C lại cho C1. Đến chiều cùng ngày, L quay lại Văn phòng công chứng thì đã có chữ ký của ông C. Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với C1 thì C1 hoàn toàn không biết gì về việc ký kết này. Bà H1 thừa nhận là người đã ký vào giấy ủy quyền cho L nhưng với mục đích là cho Lam mượn để đi vay, L cam kết 02 tháng sau sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên cho bà, việc cho mượn này ông C hoàn toàn không biết.

Sau khi có hợp đồng công chứng ủy quyền thửa đất trên, ngày 09/11/2018, L dùng hợp đồng ủy quyền để thế chấp thửa đất trên cho bà Nguyễn Ngọc Á để vay số tiền 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng), lãi suất 3%/tháng (ký kết hợp đồng chuyển nhượng để đảm bảo khoản vay). Sau khi L vay tiền của bà Á, đến hạn 02 tháng trả lại giấy tờ đất cho bà H1, do L không có tiền chuộc giấy đất trả lại cho bà H1 như cam kết nên bà H1 có kêu L dẫn bà H1 lên Thành phố Hồ Chí Minh gặp trực tiếp bà Nguyễn Ngọc Á tại khách sạn N1. Tại đây, bà H1 có trao đổi với bà Á và L về việc bà H1 có cho L mượn tạm thửa đất trên để đi cầm cố nhưng việc mượn chỉ bằng giấy tay để L vay 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), ông C không có ký tên trong hồ sơ ủy quyền công chứng và chữ ký của ông C là chữ ký giả. Tại thời điểm này, các bên đã biết được hợp đồng ủy quyền có chữ ký giả. Lúc này, bà H1 buộc L phải trả lại giấy tờ thửa đất trên cho bà H1, đồng thời bà Á cũng yêu cầu L chuộc sổ về để trả tiền lại cho bà Á nhưng do lúc này L đang nợ rất nhiều và không còn khả năng chuộc sổ nên L đã nảy sinh ý định sẽ đem giấy chứng nhận thửa đất trên thế chấp cho người khác số tiền cao hơn để trả cho bà Á, bà Á đã ký hủy hợp đồng chuyển nhượng với L để L tiếp tục đem thửa đất trên cầm cố cho người khác. Ngày 12/4/2019, bà Á ký hủy hợp đồng chuyển nhượng với L thì đến ngày 16/4/2019 L tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên với ông Đỗ Đức T4 với số tiền 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỷ đồng), (mọi giao dịch chuyển tiền giữa L và ông T4 là do ông T4 nhờ Phạm Văn Ú thực hiện). Lam cho rằng hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên giữa L và ông T4 thực chất là hợp đồng cầm cố có đảm bảo. Tuy nhiên, ông T4 khẳng định đây là hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, ông T4 và ông Ú đến nhận đất thì phát hiện thửa đất trên là của vợ chồng ông C, bà H1 không phải đất của L, ông C, bà H1 không có ủy quyền cho L thửa đất này.

Sau đó, ông C, bà H1, ông Ú và ông T4 đã làm đơn tố giác gửi Cơ quan điều tra Công an tỉnh K để điều tra làm rõ hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Đặng Thị Thúy L. Ngày 26/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra Công an tỉnh K đã khởi tố vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Đặng Thị Thúy L về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cho đến nay.

* Tại Kết luận giám định số: 122/KL-KTHS ngày 03/3/2020 của phòng K2 Công an tỉnh K kết luận đối với đối tượng giám định như sau:

1/- Chữ ký mang tên Dư Đình C và chữ viết ghi họ tên “Dư Đình Chỉ” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 so với chữ ký dạng đọc được “Chi” và chữ viết ghi họ tên “Dư Đình C” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M9 không phải do cùng một người ký và viết ra.

2/- Không đủ cơ sở kết luận chữ ký dạng đọc được “Huệ” và chữ viết ghi họ tên “Hồ Thị H1” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 so với chữ ký dạng đọc được “Huệ” và chữ viết ghi họ tên “Hồ Thị H1” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M9 đến M13 có phải do cùng một người ký và viết ra hay không (Bút lục 167, 168).

* Đối với ông Trương Thanh D - Công chứng viên phòng C4 (nay là Văn phòng C3): Cơ quan điều tra xác định có đủ yếu tố cấu thành tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 360 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do ông D đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K không xem xét khởi tố, xử lý.

* Đối với ông Tăng Phước T8 - Chuyên viên phòng Công chứng, T8 là người được giao nhiệm vụ tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ công chứng để trình Công chứng viên ký, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ T8 đã thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao, làm sai quy định công chứng, đã có hành vi đưa hồ sơ công chứng cho L đem ra khỏi Phòng Công chứng lấy chữ ký của các bên công chứng và đã để xảy ra văn bản công chứng có chữ ký giả của ông C. Từ văn bản có chữ ký giả này đã giúp cho L thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cơ quan điều tra xác định hành vi của T8 có dấu hiệu đồng phạm với ông Trương Thanh D về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 360 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do ông D đã chết nên về hành vi của T8, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục củng cố tài liệu, chứng cứ và sẽ đề xuất xử lý sau.

* Đối với ông Hồ Minh K1, Cơ quan điều tra xác định ông K1 đã cùng với L đến nhà bà H1 hỏi mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H1, chính K1 là người ký giấy cam kết mượn thửa đất số AL752818, thửa số 52, tờ bản đồ số 88, diện tích 259,4m², tại đường C, Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên, cả L và K1 đều khai nhận: do lúc đầu L và K1 thỏa thuận với nhau rằng K1 là người sẽ cầm cố thửa đất này nên cả hai cùng nhau đến gặp bà H1, nhưng việc thỏa thuận không thành, việc K1 ký giấy cam đoan mượn thửa đất là theo yêu cầu của L, K1 không hưởng lợi ích vật chất gì từ việc ký giấy cam đoan này nên hành vi của K1 không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với vai trò đồng phạm giúp sức.

* Đối với bà Nguyễn Ngọc Á: Cơ quan điều tra xác định, bà Á biết được thông tin chữ ký ông C, bà H1 trên hợp đồng ủy quyền là giả trong cuộc gặp giữa bà H1, L và bà Á tại khách sạn N1. Việc bà Á ký hủy hợp đồng chuyển nhượng công chứng với L đã tạo điều kiện cho L tiếp tục lấy thửa đất thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông T4. Tuy nhiên, hiện tại bà Á đã xuất cảnh nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được với bà A. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, củng cố tài liệu chứng cứ và sẽ đề xuất xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKSTKG-P2 ngày 15/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã: Truy tố bị cáo Đặng Thị Thúy L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2024/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

1/. Căn cứ vào: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Thúy L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Xử phạt bị cáo Đặng Thị Thúy L 18 (mười tám) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2022.

2/. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Đặng Thị Thúy L phải có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Đức T4 15.000.000.000đ (mười lăm tỷ đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3/. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tuyên bố, đối với hợp đồng ủy quyền có chữ ký giả của ông Dư Đình C công chứng ngày 08/11/2018 tại Văn phòng C5 và các hợp đồng chuyển nhượng giao kết trên cơ sở hợp đồng ủy quyền có liên quan đến thửa đất số 52, tờ bản đồ số 88 của ông Dư Đình C, bà Hồ Thị H1 là hợp đồng chuyển nhượng công chứng ngày 16/4/2019 tại Văn phòng C5, cũng như các giao dịch ủy quyền, chuyển nhượng, cho thuê phát sinh mà ông Đỗ Đức T4, ông Phạm Văn Ú xác lập sau khi biến động sang tên đất thửa số 52, tờ bản đồ số 88 là hợp đồng ủy quyền công chứng ngày 11/7/2020 ký tại Văn phòng C3, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất công chứng ngày 11/8/2020 tại văn phòng C3 đều vô hiệu;

- Kiến nghị Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K thu hồi (thu hồi giá trị pháp lý của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai) đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CR175493, thửa đất số 52, tờ bản đồ số 88, diện tích 257,4m², ký ngày 25/11/2019, tên chủ sử dụng đất ông Đỗ Đức T4, sinh năm 1960;

- Sau khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CR175493, thửa đất số 52, tờ bản đồ số 88, diện tích 257,4m², ký ngày 25/11/2019 đã cấp cho ông Đỗ Đức T4 được thu hồi, chủ sở hữu sử dụng thửa đất số 52, tờ bản đồ số 88, địa chỉ: khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang là ông Dư Đình C và bà Hồ Thị H1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác lập quyền sử dụng đất của mình theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 15/8/2024, bị cáo Đặng Thị Thúy L có đơn kháng cáo, đề nghị xem xét lại tội danh vì cho rằng bị cáo không có hành vi gian dối trong để chiếm đoạt số tiền 15 tỷ đồng.

Ngày 19/8/2024, bị hại Đỗ Đức T4 có đơn kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc Văn phòng công chứng, công chứng viên phải bồi thường thiệt hại và xem xét trách nhiệm liên đới của bà Hồ Thị H1.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thị Thúy L3 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Thị Thúy L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, trong vụ án này, có căn cứ xác định công chứng viên đã thiếu trách nhiệm, không thực hiện đúng trình tự, thủ tục khi công chứng hợp đồng, tạo điều kiện cho bị cáo chiếm đoạt tiền của bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Văn phòng công chứng số 02 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không xem xét trách nhiệm liên đới bồi thường là thiếu sót. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chưa đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Dư Đình C, bà Hồ Thị H1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên phần biện pháp tư pháp của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thúy L3 và bị hại ông Đỗ Đức T4 làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Xuất phát từ mối quan hệ quen biết và việc trước đây vợ chồng ông Dư Đình C và bà Hồ Thị H1 đã cho bị cáo Đặng Thị Thúy L mượn 02 quyền sử dụng đất để thế chấp vay tiền, tháng 11/2018, bị cáo L tiếp tục mượn bà H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 52, tờ bản đồ 88, diện tích 257,4m², tọa lạc tại đường C, thành phố P, là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của ông C, bà H1 để vay 05 tỷ đồng, thời hạn 02 tháng sau sẽ hoàn lại giấy. Bị cáo L đến Văn phòng Có đề nghị công chứng hợp đồng có nội dung ông C, bà H1 ủy quyền cho bị cáo được quản lý, sử dụng, định đoạt thửa đất số 52; hợp đồng được công chứng viên Trương Thanh D thuộc Văn phòng C6 công chứng. Tuy nhiên, thực tế bà H1, ông C không ký tên tại Văn phòng C6. Theo lời khai của ông C, bà H1 trong quá trình giải quyết vụ án thì ông C không ký tên vào hợp đồng ủy quyền; ông Tăng Phước T8 chuyên viên và ông Trương Thanh D – công chứng viên Văn phòng C6 có lời khai xác định hợp đồng ủy quyền do bị cáo L ký sẵn bên ngoài; ông C, bà H1 không ký hợp đồng tại văn phòng công chứng. Tại Kết luận giám định số 122/KL-KTHS ngày 03/3/2020 của phòng K2 Công an tỉnh K kết luận: “Chữ ký mang tên Dư Đình C và chữ viết ghi họ tên “Dư Đình Chi” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 so với chữ ký dạng đọc được “Chi” và chữ viết ghi họ tên “Dư Đình C” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M9 không phải do cùng một người ký và viết ra".

Sau khi có hợp đồng ủy quyền bị cáo L thế chấp vay của bà Nguyễn Ngọc Á 10 tỷ đồng, lãi suất 3%/tháng. Đến hạn, bà H1 yêu cầu bị cáo trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bị cáo dẫn bà H1 lên Thành phố Hồ Chí Minh gặp mặt bà Á. Tại đây, bà H1 xác định ông C - chồng bà H1 không ký vào hợp đồng ủy quyền nên các hợp đồng ủy quyền, chuyển nhượng trái pháp luật và đòi lại giấy chứng nhận. Sau đó, bị cáo và bà Á thỏa thuận hủy hợp đồng chuyển nhượng đã ký (thực thực chất là giả cách để đảm bảo khoản vay); bị cáo liên hệ với ông Phạm Văn Ú đưa ra thông tin gian dối đã được ủy quyền hợp pháp để chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 52. Do tin tưởng việc bị cáo đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 52 và được ủy quyền hợp lệ nên ông Đỗ Đức T4 (ủy quyền cho ông Phạm Văn Ú) đồng ý nhận chuyển nhượng và thanh toán số tiền chuyển nhượng 15 tỷ đồng cho bị cáo. Hợp đồng chuyển nhượng giữa bị cáo (đại diện ông T4, bà C) với ông Ú (đại diện ông T4) được công chứng hợp lệ; hiện ông T4 đã được cập nhật sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, thực tế diện tích đất trên hiện vẫn đang do ông C, bà H1 quản lý sử dụng.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Thị Thúy L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo về tội danh:

Theo đơn kháng cáo, bị cáo kháng cáo cho rằng không thực hiện hành vi đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt của ông T4 số tiền 15 tỷ đồng. Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm bị cáo cho rằng thực chất giữa bị cáo và ông T4 không thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng là để đảm bảo cho khoản vay của bị cáo với ông Phạm Văn Ú. Xét thấy, lời trình bày của bị cáo không được ông Ú và ông T4 thừa nhận; bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa bị cáo và ông Phạm Văn Ú có giao dịch vay mượn, thế chấp. Tại bản tường trình ngày 28/10/2022 (BL402-404), bị cáo thừa nhận bà H1, ông C không trực tiếp ký giấy ủy quyền tại Văn phòng công chứng; trong cuộc gặp giữa bà H1, bà Á và bị cáo, bà H1 đã nói rõ việc ông C không ký vào hợp đồng ủy quyền nên hợp đồng này không hợp lệ. Bà H1 đã yêu cầu bị cáo hoàn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bị cáo không hoàn trả mà lại tiếp tục thực hiện chuyển nhượng cho ông T4 để nhận 15 tỷ đồng; không có ý kiến đồng ý và cũng không thông báo cho bà H1, ông C được biết. Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo biết rõ bản thân không được ủy quyền định đoạt hợp pháp đối với thửa đất số 52 nhưng vẫn đưa ra thông tin gian dối để ông T4 ký hợp đồng chuyển nhượng, chuyển số tiền 15 tỷ đồng cho bị cáo, từ đó chiếm đoạt số tiền này. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự.

Về số tiền chiếm đoạt, quá trình điều tra, xét xử bị cáo không thừa nhận đã nhận đủ số tiền 15 tỷ đồng từ ông T4. Xét thấy, chứng từ chuyển khoản do ông T4 giao nộp thể hiện, ngày 12/4/2019 chuyển cho bà Á theo yêu cầu của bị cáo L 8.839.000.000 đồng, được bị cáo thừa nhận; ngày 13/4/2019 chuyển vào tài khoản cá nhân bị cáo L 3.700.000.000 đồng, bị cáo cho rằng đây là tiền chuyển cho khoản vay khác nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh; số tiền còn lại đưa tiền mặt cho bị cáo L, bị cáo không có ký nhận nhưng sau đó ngày 16/4/2019 thì L đã ký chuyển nhượng thửa đất số 52 cho ông Đỗ Đức T4, nội dung hợp đồng chuyển nhượng thể hiện đã giao nhận đủ số tiền 15 tỷ đồng. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định số tiền L đã sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của ông T4 15 tỷ đồng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Thị Thúy L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh là không có cơ sở chấp nhận.

Về hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tính chất hành vi phạm tội, xem xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị hại cũng có văn bản xin giảm nhẹ cho bị cáo; từ đó xử phạt bị cáo 18 năm tù là phù hợp, trong khung hình phạt. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không có thái độ thành khẩn khai báo, không thừa nhận hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt trên là phù hợp; cần giữ nguyên.

[2.3] Đối với kháng cáo của ông Đỗ Đức T4 về phần trách nhiệm dân sự:

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Sau khi mượn bà H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 52, tờ bản đồ 88, diện tích 257,4m², tọa lạc tại đường C, thành phố P, là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của ông C, bà H1. Bị cáo L đến Văn phòng C6 đề nghị công chứng hợp đồng có nội dung ông C, bà H1 ủy quyền cho bị cáo được quản lý, sử dụng, định đoạt thửa đất số 52; hợp đồng được công chứng viên Trương Thanh D thuộc Văn phòng C6 công chứng. Thực chất, ông C không ký vào hợp đồng ủy quyền này. Trên cơ sở hợp đồng ủy quyền này, bị cáo đã thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cho bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản.

Lời khai của ông Tăng Phước T8 – chuyên viên Phòng Công chứng thừa nhận ông C, bà H1 không ký hợp đồng tại Phòng Công chứng; do biết bị cáo Lam quen ông Trương Thanh D – công chứng viên nên sau khi lập hồ sơ đã đưa cho bị cáo L mang ra ngoài ký (BL442-443). Công chứng viên Trương Thanh D có lời khai xác định thời điểm ký hợp đồng ủy quyền không có mặt vợ chồng ông C, bà H1; vì sao hợp đồng có chữ ký của ông C, bà H1 và đây có phải là chữ ký của ông C, bà H1 hay không thì ông không biết; do tin tưởng cấp dưới nên ông đã ký văn bản công chứng và thừa nhận việc thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ (BL424-425).

Như vậy, có căn cứ xác định công chứng viên Phòng C4 đã không thực hiện đúng trình tự, thủ tục trong quá trình công chứng theo quy định pháp luật, đã tạo điều kiện cho bị cáo L thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra xác định công chứng viên Trương Thanh D - Công chứng viên Phòng C4 có dấu hiệu thiếu trách nhiệm trong việc công chứng hợp đồng ủy quyền, tạo điều kiện cho bị cáo L thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do ông D đã chết trong quá trình điều tra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K không xem xét khởi tố, xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông D. Tuy nhiên, về trách nhiệm dân sự, Điều 38 Luật Công chứng quy định: “1. Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng”. Trong vụ án này, có căn cứ xác định công chứng viên đã có lỗi trong việc thực hiện công chứng, dẫn đến bị cáo lợi dụng và thực hiện trót lọt hành vi phạm tội, gây thiệt hại cho bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Văn phòng C5 vào tham gia tố tụng và không xem xét trách nhiệm bồi thường của Văn phòng C5 là chưa phù hợp với quy định pháp luật.

Kháng cáo của bị hại đề nghị xem xét lại nội dung này là có cơ sở. Để đảm bảo quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần hủy một phần bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại đối với nội dung bị hủy.

[2.4] Quá trình giải quyết lại phần trách nhiệm dân sự liên quan đến việc bồi thường số tiền 15 tỷ đồng cho bị hại Đỗ Đức T4, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét thêm về biện pháp tư pháp có liên quan khác. Bởi lẽ:

Quá trình điều tra, xét xử vụ án, bị cáo L thừa nhận do bà H1 yêu cầu hoàn trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Á yêu cầu hoàn trả tiền nên bị cáo đã lập hợp đồng chuyển nhượng đất với ông T4 số tiền 15.000.000.000 đồng; sau khi nhận bị cáo đã hoàn trả nợ cho bà Á; gồm nhờ bà H1 trả 3.000.000.000 đồng tiền mặt và ông Phạm Văn Ú chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản bà Á 8.839.000.000 đồng (trong đó có 1.000.000.000 đồng bà H1 trả cho bà Á). Tại biên bản ghi lời khai ngày 12/3/2021, bà Nguyễn Ngọc Á xác định ngày 12/4/2019, bị cáo L đã trả đủ số tiền 10 tỷ mượn bà nên bà đã lập hợp đồng hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với L (BL 229-230). Thực tế, theo đề nghị của bị cáo L thì ông Ú đã chuyển cho bà Á 8.839.000.000 đồng theo ủy nhiệm chi ngày 12/9/2019 của Ngân hàng TMCP Á1 chi nhánh P. Như vậy, có căn cứ xác định số tiền bị cáo L chuyển trả cho bà Á là tiền do phạm tội mà có và theo quy định pháp luật cần buộc bà Á hoàn trả lại số tiền trên cho bị hại.

Cơ quan điều tra xác định, bà Á biết được thông tin chữ ký ông C, bà H1 trên hợp đồng ủy quyền là giả trong cuộc gặp giữa bà H1, L và bà Á tại khách sạn N1. Việc bà Á ký hủy hợp đồng chuyển nhượng công chứng với L đã tạo điều kiện cho L tiếp tục lấy thửa đất thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông T4. Hiện tại bà Á đã xuất cảnh nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được với bà Á. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, củng cố tài liệu chứng cứ và sẽ đề xuất xử lý sau. Tuy nhiên, biên bản xác minh do cơ quan điều tra lập (BL 407-408) chỉ thể hiện trước đây bà Á sinh sống tại địa chỉ số D H, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (khách sạn N1), nay đã đi nước ngoài sinh sống và giao lại khách sạn cho con gái kinh doanh, tiếp quản; chưa thể hiện việc xác minh tại cơ quan xuất nhập cảnh, cũng như xác minh làm rõ về tình trạng tài sản của bà Á tại Việt Nam để từ đó xem xét, giải quyết thu hồi tài sản do phạm tội mà có.

[3] Về án phí:

- Án phí sơ thẩm:

Bị cáo Đặng Thị Thúy L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm liên quan đến trách nhiệm bồi thường dân sự được giải quyết lại khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án.

- Án phí phúc thẩm:

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đặng Thị Thúy L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Ông Đỗ Đức T4 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Thúy L.

    Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2024/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về tội danh, hình phạt, biện pháp tư pháp.

    Căn cứ vào điểm a, khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Thúy L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

    Xử phạt bị cáo Đặng Thị Thúy L 18 (mười tám) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2022.

    Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    • Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền giữa ông Dư Đình C, bà Hồ Thị H1 với Đặng Thị Thúy L lập ngày 08/11/2018 tại Văn phòng C5 đối với số 52, tờ bản đồ số 88, tọa lạc tại đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dư Đình C, bà Hồ Thị H1 (do Đặng Thị Thúy L4 đại diện ủy quyền) với ông Đỗ Đức T4 lập ngày 16/4/2019 tại Văn phòng C5; các giao dịch do ông Đỗ Đức T4, ông Phạm Văn Ú xác lập sau khi biến động sang quyền sử dụng đất như hợp đồng ủy quyền công chứng ngày 11/7/2020 ký tại Văn phòng C3, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất công chứng ngày 11/8/2020 tại Văn phòng C3 đều vô hiệu.
    • Kiến nghị Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K thu hồi (thu hồi giá trị pháp lý của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CR175493, thửa đất số 52, tờ bản đồ số 88, diện tích 257,4m², ký ngày 25/11/2019, tên chủ sử dụng đất ông Đỗ Đức T4, sinh năm 1960.
    • Sau khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CR175493, thửa đất số 52, tờ bản đồ số 88, diện tích 257,4m², ký ngày 25/11/2019 đã cấp cho ông Đỗ Đức T4 được thu hồi, chủ sở hữu sử dụng thửa đất số 52, tờ bản đồ số 88, địa chỉ: khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang là ông Dư Đình C và bà Hồ Thị H1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác lập quyền sử dụng đất của mình theo quy định của pháp luật.
  2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Đỗ Đức T4.

    Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2024/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về trách nhiệm dân sự. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết lại về phần trách nhiệm dân sự.

  3. Về án phí:

    Án phí dân sự sơ thẩm được giải quyết lại khi Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết lại phần trách nhiệm dân sự.

    - Bị cáo Đặng Thị Thúy L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

    - H2 lại cho ông Đỗ Đức T4 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006399 ngày 05/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Kiên Giang (2);
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang (1);
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang (1);
  • - Công an tỉnh Kiên Giang (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Kiên Giang (2);
  • - Đương sự (4);
  • - Lưu VP(5), HS(2).21b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 419/2025/HS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 419/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự. 1/. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Thúy L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2024/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về tội danh, hình phạt, biện pháp tư pháp. 2/. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Đỗ Đức T4. Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2024/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về trách nhiệm dân sự. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết lại về phần trách nhiệm dân sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger