Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 419/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25 tháng 06 năm 2025

V/v: Xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trọng Điệp
  2. Ông Trần Đức Lưu

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 836/2024/TB – TLVA ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 06 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Phạm Huyền T, sinh năm 1986; HKTT và nơi ở: 103 B Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Chị T có mặt.
  • Bị đơn: Anh Vũ Đức H, sinh năm 1972; HKTT và nơi ở: 103 B Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Người giám hộ: Anh Vũ Đức H1, sinh năm 1960; HKTT: Số C H, phường H, quận H, Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Số E H, phường Q, quận B, Hà Nội. Anh H1 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn – chị Phạm Huyền T trình bày:

Về tình cảm:

Chị và anh Vũ Đức H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận H, Hà Nội ngày 19/11/2015. Sau khi kết hôn chị và anh H về chung sống tại căn hộ S B Tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội đến nay. Quá trình chung sống anh chị sống bình thường. Đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp cách sống. Đến năm 2023, anh H phát bệnh tâm thần. Chị nhận thấy anh H tâm thần không bình thường nên đến tháng 11 năm 2024 gia đình có đưa anh H đi khám và điều trị nội trú tại Bệnh viện T3 từ đó đến nay. Tại bản tóm tắt hồ sơ bệnh án ngày 24/01/2025 của Bệnh viện T3 đã hội chẩn với chuẩn đoán anh H bị: “rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm có các triệu chứng loạn thần”. Hiện nay anh H vẫn đang được điều trị tại bệnh viện T3.

Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 85/2025/QĐDS-ST ngày 09/05/2025 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã quyết định:

  • “- Tuyên bố anh Vũ Đức H (Sinh năm 1972; HKTT và nơi ở: 103 B Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội) là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  • - Chỉ định anh Vũ Đức H1 là người giám hộ cho anh Vũ Đức H.”

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã kéo dài nhiều năm, cuộc sống vợ chồng mệt mỏi, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Đức H.

Về con chung:

Chị và anh H có 02 con chung là cháu Vũ Đức D, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Vũ Đức T1, sinh ngày 29/10/2018. Khi ly hôn, chị xin nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản và nhà ở (động sản và bất động sản):

Chị và anh Vũ Đức H có 01 tài sản chung là Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội. Theo chị, căn hộ trên có giá trị 1.500.000.000 đồng.

Chị và anh Vũ Đức H1 (là người giám hộ của anh Vũ Đức H) đã thống nhất thỏa thuận phân chia tài sản giữa tôi và anh H như sau:

  1. Chị và anh Vũ Đức H có 01 tài sản chung là diện tích nhà đất tại địa chỉ: Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội, là căn hộ tập thể tầng 1, diện tích 26,5m². Nhà đất này đã được Ủy ban nhân dân quận B, Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC208061 ngày 27/12/2010 đã được sang tên cho chị và anh Vũ Đức H trên Giấy chứng nhận ngày 16/7/2016. Ngoài ra chị và anh H không có tài sản nào khác.
  2. Chị và anh H (do anh H1 là người giám hộ) thống nhất: Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội có giá trị là 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Chị và anh H1 không yêu cầu Tòa án trưng cầu định giá đối với căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội do anh chị đã thống nhất được giá trị tài sản như trên.
  3. Chị và anh H (do anh H1 là người giám hộ) thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án sự thống nhất phân chia tài sản giữa chị và anh H như sau:
    • - Chị được toàn quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội, diện tích thửa đất chung là 248,2m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: lâu dài; nhà ở: diện tích sàn sử dụng riêng là 26,5m² do Ủy ban nhân dân quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC208061 cấp ngày 27/12/2010, được sang tên cho tôi và anh Vũ Đức H ngày 16/07/2016. Giá trị Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội là 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
    • - Chị có trách nhiệm thanh toán cho anh Vũ Đức H do anh Vũ Đức H1 giám hộ số tiền: 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng).

Chị và anh H1 đã thống nhất thỏa thuận phân chia tài sản như trên. Chị và anh H1 đề nghị Tòa án ghi nhận trong bản án của Tòa án nội dung thỏa thuận phân chia tài sản của chúng tôi như trên.

Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác về tài sản.

Về nợ:

Chị và anh H không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

* Trong các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Bị đơn – anh Vũ Đức H do anh Vũ Đức H1 là người giám hộ trình bày:

Về tình cảm:

Chị Phạm Huyền T và em trai anh là Vũ Đức H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận H, Hà Nội ngày 19/11/2015. Sau khi kết hôn chị T và anh H về chung sống tại căn hộ S B Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội đến nay. Quá trình chung sống anh được biết vợ chồng chị T và anh H sống không hạnh phúc. Đến năm 2023, anh H phát bệnh tâm thần. Hiện nay anh H vẫn đang được gia đình cho đi điều trị bệnh tâm thần tại Bệnh viện T3.

Bố mẹ anh là ông Vũ Đức P (Sinh năm 1938, mất năm 2016) và bà Trần Thị T2 (Sinh năm 1937, mất năm 2002). Bố mẹ anh có 03 người con đẻ gồm tôi là Vũ Đức H1, em gái anh là Vũ Lan H2 (Sinh năm 1963) và anh Vũ Đức H (Sinh năm 1972). Ngoài ra, bố mẹ anh không có người con đẻ hoặc con nuôi nào khác.

Chị T đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ba Đình tuyên bố anh Vũ Đức H có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi. Do bố mẹ anh đều đã mất, anh là anh cả trong gia đình nên anh đã đề nghị Tòa án chỉ định anh là người giám hộ cho anh H.

Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 85/2025/QĐDS-ST ngày 09/05/2025 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã quyết định:

  • “- Tuyên bố anh Vũ Đức H (Sinh năm 1972; HKTT và nơi ở: 103 B Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội) là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  • - Chỉ định anh Vũ Đức H1 là người giám hộ cho anh Vũ Đức H.”

Nay chị T khởi kiện xin ly hôn đối với anh H, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh H để chị T ổn định cuộc sống nuôi dạy các con.

Về con chung:

Em T và em H có 02 con chung là cháu Vũ Đức D, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Vũ Đức T1, sinh ngày 29/10/2018. Tôi đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho em T nuôi dưỡng vì em H đang bị bệnh tâm thần.

Về tài sản và nhà ở (động sản và bất động sản):

Chị T và anh H có 01 tài sản chung là Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội. Theo anh, căn hộ trên có giá trị 1.500.000.000 đồng.

Anh với tư cách là người giám hộ của anh H đã thống nhất thỏa thuận phân chia tài sản với chị T như sau:

  1. Chị T và anh H có 01 tài sản chung là diện tích nhà đất tại địa chỉ: Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội, là căn hộ tập thể tầng 1, diện tích 26,5m². Nhà đất này đã được Ủy ban nhân dân quận B, Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC208061 ngày 27/12/2010 đã được sang tên cho chị T và anh H trên Giấy chứng nhận ngày 16/7/2016. Ngoài ra chị T và anh H không có tài sản nào khác. Căn hộ 103B, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội có giá trị là 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Anh không yêu cầu Tòa án trưng cầu định giá đối với Căn hộ này.
  2. Anh và chị T thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án sự thống nhất phân chia tài sản giữa chị T và anh H như sau:
    • - Chị T được toàn quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội, diện tích thửa đất chung là 248,2m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: lâu dài; nhà ở: diện tích sàn sử dụng riêng là 26,5m² do Ủy ban nhân dân quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC208061 cấp ngày 27/12/2010, được sang tên cho chị T và anh H ngày 16/07/2016. Giá trị Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội là 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
    • - Chị T có trách nhiệm thanh toán cho anh Vũ Đức H do anh là người giám hộ số tiền: 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng).

Anh và chị T đã thống nhất thỏa thuận phân chia tài sản như trên. Anh và chị T đề nghị Tòa án ghi nhận trong bản án của Tòa án nội dung thỏa thuận phân chia tài sản của anh chị như trên.

Ngoài ra, anh không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác về tài sản.

Về nợ:

Chị T và anh H không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

Chị T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn đối với anh H và xác nhận đã thanh toán xong số tiền 750.000.000 đồng cho anh H do anh H1 là người giám hộ nhận.

Anh H1 đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh H. Anh xác nhận đã nhận đủ số tiền 750.000.000 đồng từ chị T là tiền thỏa thuận phân chia tài sản giữa chị T và anh H. Anh hiện đang quản lý số tiền này thay cho anh H.

Chị T và anh H1 đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận vào bản án nội dung thỏa thuận phân chia tài sản chung giữa anh H và chị T như đã trình bày ở trên.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51; 56; 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
    • + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị xử cho chị Phạm Huyền T được ly hôn anh Vũ Đức H;
    • + Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Đức D, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Vũ Đức T1, sinh ngày 29/10/2018 cho chị Phạm Huyền T nuôi dưỡng.
    • + Về tài sản chung: Do các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận xong về việc phân chia tài sản chung của chị T và anh H đối với Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội. Nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận vào bản án nội dung thỏa thuận của các đương sự như sau: Chị T được toàn quyền sở hữu, sử dụng Căn hộ 103B, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội, chị T có trách nhiệm thanh toán cho anh H do anh H1 là người giám hộ số tiền 750.000.000 đồng. Anh H1 xác nhận đã nhận đủ số tiền 750.000.000 đồng từ chị T.
    • + Về nợ chung: Chị Phạm Huyền T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
    • + Về án phí: Chị Phạm Huyền T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T và anh H không phải chịu án phí về phần tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Huyền T nộp đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Vũ Đức H. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Vũ Đức H là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại: A B Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ và các chứng cứ do các đương sự cung cấp và các chứng cứ do Tòa án đã thu thập, có đủ cơ sở xác định: Chị Phạm Huyền T và anh Vũ Đức H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận H, Hà Nội ngày 19/11/2015. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình chung sống anh, chị sống bình thường đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp cách sống. Đến năm 2023, anh H phát bệnh tâm thần. Gia đình đã phải cho anh H đi điều trị bệnh tâm thần từ tháng 11 năm 2024 đến nay. Hiện nay anh H vẫn đang được điều trị tại bệnh viện T3.

Người giám hộ của anh H là anh Vũ Đức H1 cũng xác nhận mâu thuẫn của vợ chồng chị T và anh H, anh H1 đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh H.

Xét thấy, cuộc sống chung giữa vợ chồng chị Phạm Huyền T và anh Vũ Đức H đã căng thẳng, trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh H là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về việc nuôi con chung: Chị Phạm Huyền T và anh Vũ Đức H có 02 con chung là: cháu Vũ Đức D, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Vũ Đức T1, sinh ngày 29/10/2018. Tại đơn khởi kiện, chị T xin được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh H hiện đang điều trị bệnh tâm thần tại Bệnh viện nên anh H chưa đủ khả năng để chăm sóc các con chung.

Hội đồng xét xử nhận thấy, việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của bố mẹ, nguyện vọng của các con và cũng không làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của các con chung. Xét thấy nên giao cho chị Phạm Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung để đảm bảo quyền lợi của các con cũng như phù hợp với điều kiện của anh chị và các quy định của pháp luật. Anh Vũ Đức H không phải đóng góp tiền nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung (động sản và bất động sản):

Chị T trình bày: Chị và anh Vũ Đức H có 01 tài sản chung là diện tích nhà đất tại địa chỉ: Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội, là căn hộ tập thể tầng 1, diện tích 26,5m². Nhà đất này đã được Ủy ban nhân dân quận B, Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC208061 ngày 27/12/2010 đã được sang tên cho chị T và anh Vũ Đức H trên Giấy chứng nhận ngày 16/7/2016. Ngoài ra chị T và anh H không có tài sản nào khác. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 09/5/2025, chị T có đơn đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng là Căn hộ A, nhà B7b tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội.

Anh Vũ Đức H hiện đang điều trị bệnh tâm thần tại Bệnh viện. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 85/2025/QĐDS-ST ngày 09/05/2025 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã quyết định: “- Tuyên bố anh Vũ Đức H (Sinh năm 1972; HKTT và nơi ở: 103 B Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội) là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. - Chỉ định anh Vũ Đức H1 là người giám hộ cho anh Vũ Đức H.”

Trước thời điểm Tòa án mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, chị T và anh H do anh H1 là người giám hộ đã tự thống nhất thỏa thuận phân chia tài sản chung của chị T và anh H và có đơn đề nghị Tòa án ghi nhận trong bản án thỏa thuận phân chia tài sản chung của chị T và anh H cụ thể như sau:

  • - Chị Phạm Huyền T và anh Vũ Đức H do anh H1 là người giám hộ thống nhất: Căn hộ A, nhà B7b tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội có giá trị là 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
  • - Chị T được toàn quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với Căn hộ A, nhà B7b tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội, diện tích thửa đất chung là 248,2m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: lâu dài; nhà ở: diện tích sàn sử dụng riêng là 26,5m² do theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC208061 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 27/12/2010, được sang tên cho chị T và anh Vũ Đức H ngày 16/07/2016.
  • - Chị T có trách nhiệm thanh toán cho anh Vũ Đức H do anh Vũ Đức H1 giám hộ số tiền: 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng).

Tại phiên tòa, chị T và anh H1 thống nhất xác nhận: Ngày 22/06/2025, chị T đã thanh toán đầy đủ số tiền 750.000.000đ cho anh H do anh H1 là người giám hộ của anh H nhận và quản lý cho anh H. Anh H1 xác nhận đã nhận đủ số tiền 750.000.000đ từ chị T.

Hội đồng xét xử xét thấy việc các đương sự thỏa thuận là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận vào bản án nội dung thỏa thuận phân chia tài sản của chị T và anh H như trên.

[5]. Về nợ chung: Chị Phạm Huyền T và anh Vũ Đức H do anh Vũ Đức H1 là người giám hộ xác nhận chị và anh H không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí ly hôn sơ thẩm:

  • - Chị Phạm Huyền T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
  • - Về án phí chia tài sản: Do chị T và người giám hộ của anh H là anh H1 đã tự nguyện thỏa thuận với nhau từ trước thời điểm Tòa án mở phiên hòa giải và chỉ đề nghị Tòa án ghi nhận vào bản án. Do vậy căn cứ điểm d khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị T và anh H không phải chịu án phí đối với phần tài sản được hưởng.

Hoàn trả cho chị T số tiền tạm ứng án phí là 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng) chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0031532 ngày 20/05/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[8]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các căn cứ và nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 51; Điều 56; 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm d khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Huyền T.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Huyền T được ly hôn anh Vũ Đức H.
  3. Về việc nuôi con chung: Chị Phạm Huyền T và anh Vũ Đức H do anh Vũ Đức H1 là người giám hộ xác nhận chị T và anh H có 02 con chung là: cháu Vũ Đức D, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Vũ Đức T1, sinh ngày 29/10/2018. Giao con chung là cháu Vũ Đức D và cháu Vũ Đức T1 cho chị Phạm Huyền T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của anh H cho đến khi chị T có yêu cầu. Anh Vũ Đức H do anh Vũ Đức H1 là người giám hộ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  4. Về tài sản chung và nhà ở chung (động sản và bất động sản): Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của chị Phạm Huyền T và anh Vũ Đức H do anh Vũ Đức H1 là người giám hộ, cụ thể như sau:
    • - Căn hộ A, nhà B tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội có giá trị là 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
    • - Giao cho chị Phạm Huyền T được toàn quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với Căn hộ A, nhà B7b tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội, diện tích thửa đất chung là 248,2m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: lâu dài; nhà ở: diện tích sàn sử dụng riêng là 26,5m² do Ủy ban nhân dân quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC208061 cấp ngày 27/12/2010, được sang tên cho chị Phạm Huyền T và anh Vũ Đức H ngày 16/07/2016.
    • Chị Phạm Huyền T có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để hoàn thiện thủ tục đăng ký biến động đất đai theo quy định của pháp luật.
    • - Chị Phạm Huyền T có trách nhiệm thanh toán cho anh Vũ Đức H do anh Vũ Đức H1 giám hộ số tiền: 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng). Xác nhận chị Phạm Huyền T đã thanh toán xong số tiền trên cho anh Vũ Đức H1.
  5. Về các khoản nợ: Tòa án không xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí:
    • - Chị Phạm Huyền T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0030883 ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
    • - Hoàn trả cho chị Phạm Huyền T số tiền tạm ứng án phí là 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng) chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0031532 ngày 20/05/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - UBND p. Cửa Đông, Hoàn Kiếm, Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 419/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xin ly hôn

  • Số bản án: 419/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Xin ly hôn và chia tài sản giữa chị T và anh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger