Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 419/2025/DS-PT

Ngày: 12/6/2025

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông: Đàm Văn Thuận

Bà: Đặng Mai Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 11 và 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 195/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 03 năm 2025 về việc “ Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 296/2024/DS-ST ngày 28 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2025/QĐPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 354/2025/QĐHPT-PT ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 381/2025/QĐHPT-PT ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980

Nơi thường trú: P105, Tập thể Công ty X với Lào, phường T, quận T, Hà Nội, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T: Luật sư Phạm Đức T1 và Luật sư Nguyễn Giang M - Công ty L, Đoàn luật sư thành phố H; Trụ sở: Tầng B, số D, ngõ I, đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Y, sinh năm 1961

Nơi thường trú: Số H đường G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Y: Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H do ông Lê Minh C, sinh năm 1988; CCCD số [...] - Nhân viên Công ty L1 là người đại diện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Y: Luật sư Nguyễn Đức H - Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H; Trụ sở: Phòng 201, Tầng C, Tòa nhà H, số A phố T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1959
  2. Ông Nguyễn Mạnh T2, sinh năm 1968

Cùng nơi đăng ký thường trú: Số B tổ E, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội (Nay là số D ngõ A, phố T, phường T, quận Đ, thành phố H).

Người đại diện theo ủy quyền của bà N, ông T2: Bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1991; CCCD số [...]; Nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội: Nơi ở: V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu Y.

Tại phiên toà có mặt: các đương sự và luật sư

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai tại Toà án và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Vào tháng 11/2023, do có nhu cầu mua đất để ở, bà T đã thoả thuận mua của gia đình bà Y diện tích đất là 32,m² là phần diện tích sở hữu chung của bà Y, ông T2 và bà N thuộc một phần trong tổng diện tích đất của gia đình bà Y là 76,8m² tại địa chỉ số D ngõ A phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Thửa đất này trước khi được tách là thửa thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 10109350807 do Sở địa chính nhà đất cấp ngày 08/10/2001 mang tên bà Nghiêm Thị Đ ( chồng là Nguyễn C1 đã chết).

Bà T và bà Y, ông T2, bà N thỏa thuận giá chuyển nhượng là 126.000.000 đồng/m². Trị giá của diện tích đất chuyển nhượng là 32,2 m² x 126.000.000 đồng = 4.057.200.000 đồng. Đồng thời, thống nhất bà T đặt cọc trước số tiền 200.000.000 đồng. Ngày 03/11/2023, gia đình bà Y thống nhất giao bà Y nhận tiền đặt cọc của bà T như thỏa thuận. Việc đặt cọc được lập thành văn bản có ký nhận của bà Y, bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Mạnh T2, cụ Nghiêm Thị Đ, với sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn H1 (ông H1 ký nhận làm chứng).

Ngoài việc giao bà Y nhận tiền đặt cọc, bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Mạnh T2, cụ Nghiêm Thị Đ thống nhất giao bà Y thay mặt gia đình thực hiện thủ tục tách thửa theo pháp luật về chuyền nhượng quyền sử dụng diện tích đất trên cho bà T. Quá trình thực hiện thỏa thuận, bà T và bà Y vẫn thường xuyên liên lạc để trao đổi việc thực hiện thủ tục sang tên, tách thửa.

Lần cuối cùng là ngày 20/4/2024, bà Y có thông báo cho bà T thông tin về thủ tục hành chính tách thửa đã xong, hẹn ngày gần nhất hoàn tất thủ tục mua bán, sang tên thửa đất cho bà T như cam kết. Tuy nhiên, sau đó bà Y lại loanh quanh không chịu thực hiện như cam kết, nại ra nhiều lý do không liên quan đến việc chuyển nhượng thửa đất trên đối với bà T để né tránh thực hiện nghĩa vụ. Đến nay, các thành viên gia đình bà Y đều mong muốn thực hiện thỏa thuận chuyển nhượng diện tích đât trên như đã thống nhất, duy nhất bà Y là gây khó khăn, không thực hiện. Việc bà Y không thực hiện nghĩa vụ như cam kết ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà T. Nhu cầu mua bán của bà T đối với diện tích đất trên là có thực, để gia đình bà ổn định nơi ở và hiện nay gia đình bà rất khó khăn về chỗ ở để phục vụ nhu cầu sinh hoạt.

Do vậy, bà khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà Y tiếp tục thực hiện cam kết chuyển nhượng phần diện tích đất trên theo thỏa thuận và có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất thủ tục sang tên, tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà theo qui định pháp luật.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu Y trình bày: Bà Y xác nhận gia đình bà gồm có cụ Đ, anh T2, chị N có ký Hợp đồng đặt cọc với bà T vào ngày 03/11/2023 để đảm bảo chuyển nhượng một phần diện tích đất là là 32,m² là phần diện tích sở hữu chung của bà Y, ông T2 và bà N thuộc thửa đất có tổng diện tích đất là 76,8m², theo thửa đất số 68, tờ bản đồ số 6G-I-45 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 10109350807 do Sở địa chính nhà đất cấp ngày 08/10/2001 mang tên bà Nghiêm Thị Đ (chồng là Nguyễn C1 đã chết). Việc thoả thuận đặt cọc mua bán đất giữa bà T và gia đình bà gồm bà, mẹ bà là cụ Đ và anh chị em bà là bà N, ông T2 và bà là có thật, bà xác nhận chữ ký và chữ viết trong hợp đồng đặt cọc là của bà.

Bà Y xác nhận cụ Đ, bà N, ông T2 thống nhất giao cho bà là người nhận tiền đặt cọc từ bà T. Bà Y đã nhận đủ số tiền đặt cọc là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) và ký nhận trong Hợp đồng đặt cọc ngày 03/11/2023. Ngoài nhận tiền đặt cọc, bà Y cũng được những người trên trong gia đình giao thực hiện các thủ tục hành chính của pháp luật liên quan đến việc sang tên, tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T. Bà Y xác nhận đã nhận đủ số tiền đặt cọc của bà T là 200.000.000 đồng. Bà đã sử dụng số tiền trên vào việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến diện tích đất chuyển nhượng trên và chỉ tiêu vào việc của đại gia đình.

Tuy nhiên, đến nay bà Y không đồng ý tiếp tục thực hiện cam kết với bà T vì mẹ bà là cụ Đ không thực hiện lời hứa cho bà thêm 20m² do bà không có chỗ ở.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Mạnh T2 và người đại diện theo ủy quyền của bà N, ông T2 là chị Nguyễn Thị Lan A trình bày:

Ông T2 và bà N xác nhận Hợp đồng đặt cọc ngày 03/11/2023 để đảm bảo chuyển nhượng diện tích đất là 32,2m² đất là phần diện tích sở hữu chung của bà Y, ông T2 và bà N thuộc thửa đất có tổng diện tích đất là 76,8m² theo thửa đất số 68, tờ bản đồ số 6G-I-45 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 10109350807 do Sở địa chính nhà đất cập ngày 08/10/2001 mang tên bà Nghiêm Thị Đ (chồng là Nguyễn C1 đã chết), giữa bà T và cụ Đ, bà N, ông T2, bà Y là có thật. Ông T2 và bà N xác nhận chữ ký và chữ viết trong hợp đồng đặt cọc là thật.

Ông T2 và bà N xác nhận cụ Đ, bà N, ông Trung T3, nhất giao bà Y là người nhận tiền đặt cọc của bà T. Bà Y đã nhận đủ số tiền đặt cọc là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) và ký nhận trong Hợp đồng đặt cọc ngày 03/11/2023. Ngoài nhận tiền đặt cọc, cụ Đ, ông T2, bà N thống nhất giao bà Y thực hiện các thủ tục hành chính theo qui định pháp luật liên quan đến sang tên, tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T.

Việc chuyển nhượng là nhu cầu thiết thực của bên mua và bên bán, bà Y thay mặt ông T2, bà N đã nhận đủ tiền đặt cọc của bà T. Đến nay, ông T2, bà N có nguyện vọng tiếp tục thực hiện thỏa thuận theo Hợp đồng đặt cọc trên và yêu cầu bà Y có nghĩa vụ hoàn tất thủ tục hành chính theo qui định pháp luật liên quan đến sang tên, tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 296/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với bà Nguyễn Thị Thu Y về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 03/11/2023.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Thu Y phải tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 03/11/2023 đối với chị Nguyễn Thị T, cụ thể:

    Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DO 433349 có diện tích 32,2m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký nhà đất Hà Nội - khu vực B - H - Đống Đa cấp ngày 15/4/2024 cho bà Nguyễn Thị Thu Y (cùng đồng sở hữu là bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Mạnh T2).

    Xác nhận bà Nguyễn Thị Thu Y đã nhận tiền đặt cọc của chị Nguyễn Thị T là 200.000.000 đồng.

    Chị Nguyễn Thị T còn phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu Y số tiền còn lại theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc nêu trên.

    Sau khi chị T thanh toán đủ số tiền theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc nêu trên thì bà N và ông T2 có nghĩa vụ liên đới cùng bà Y đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị T theo quy định pháp luật.

  3. Bác các yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu Y.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với Bản án dân sự sơ thẩm số 296/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội: Ngày 30/09/2024, bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn, luật sư của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày và đề nghị Toà án xem xét giải quyết yêu cầu buộc bị đơn phải trả lại tiền cọc, tiền phạt cọc và tiền lãi chậm thanh toán trong trường hợp bị đơn không tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán; bị đơn, luật sư của bị đơn giữ nguyên các yêu cầu kháng cáo, đề nghị toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng đặt cọc theo quy định của pháp luật; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên các ý kiến đã trình bày, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Y tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán đất, trường hợp không tiếp tục thực hiện việc mua bán thì giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng đặt cọc theo quy định của pháp luật; các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng chấp hành đầy đủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố chấm dứt việc thực hiện hợp đồng đặt cọc và giành quyền khởi kiện cho bà T về việc xử lý số tiền đặt cọc bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu Y đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu Y, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về nội dung và hiệu lực của Hợp đồng đặt cọc ngày 03/11/2023.

Do có nhu cầu mua đất và biết gia đình bà Y có nhu cầu bán một phần diện tích đất là 32,m² trong tổng diện tích đất của gia đình bà Y là 76,8m2 tại địa chỉ số D ngõ A phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số 10109350807 do Sở địa chính nhà đất Hà Nội cấp ngày 08/10/2001 mang tên bà Nghiêm Thị Đ (chồng là Nguyễn C1 đã chết), được đăng ký biến động theo Quyết định công nhận thoả thuận của các đương sự số 103/2021/QĐDS-ST ngày 20/7/2021 của Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội cho cụ Nghiêm Thị Đ, bà Nguyễn Thị Kim N, bà Nguyễn Thị Thu Y và ông Nguyễn Mạnh T2.

Ngày 03/11/2023, bà Nguyễn Thị T (bên B) và bà Nguyễn Thị Thu Y, chị Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Mạnh T2 và cụ Nghiêm Thị Đ (bên A) ký Hợp đồng đặt cọc có nội dung: Bên A đặt cọc cho bên B số tiền là 200.000.000 đồng; Thời hạn đặt cọc là 20 ngày; Mục đích đặt cọc: các bên cam kết mua, bán bất động sản là thửa đất số 68, tờ bản đồ số 6G-I-45, diện tích 76,8m2 tại số B, tổ B, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; Hai bên thỏa thuận: quá thời hạn theo thoả thuận nếu bên A không bán cho bên B thì phải hoàn trả và bồi thường cho bên A tổng số tiền là 400.000.000. Thực hiện Hợp đồng đặt cọc, bà T giao số tiền 200.000.000 đồng cho bà Y.

Mặc dù nội dung Hợp đồng đặt cọc các bên thoả thuận gia đình bà Y gồm bà Y, bà N, ông T2 và cụ Đ nhận đặt cọc để chuyển nhượng cho bà T thửa đất số 68, tờ bản đồ số 6G-I-45, diện tích 76,8m2 tại số B, tổ B, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội nhưng quá trình giải quyết vụ án tại Toà án và tại phiên toà đủ căn cứ xác định bà Y, bà N, ông T2 thoả thuận đặt cọc mua bán một phần thửa đất là 32,m² là sở hữu chung của bà Y, bà N và ông T2 trong tổng diện tích đất của gia đình bà Y là 76,8m² với bà T và giao cho bà Y là đại diện giao dịch, nhận tiền và làm thủ tục tách thửa để chuyển nhượng cho bà T, phù hợp với thoả thuận trong Hợp đồng đặt cọc về nghĩa vụ tách thửa của bị đơn để thực hiện giao dịch mua bán đất. Thực tế sau khi ký Hợp đồng đặt cọc, bà Y đã làm thủ tục tách thửa 32m² và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích 32m² đứng tên sở hữu chung của bà Y, bà N và ông T2. Sau khi tách thửa, bà T và bà Y vẫn thường xuyên trao đổi, bà Y thông báo cho bà T về việc thủ tục hành chính đã xong hẹn ngày gần nhất thực hiện việc mua bán, lần cuối cùng hai bên trao đổi là ngày 20/4/2024. Nên đủ cơ sở xác định Hợp đồng đặt cọc ngày 03/11/2023 là thoả thuận đặt cọc giữa bà T với bà Y, bà N, ông T2 về việc mua bán phần diện tích 32m² thuộc sở hữu chung của bà Y, bà N và ông T2 trong tổng số 76,8m² thửa đất số 68, tờ bản đồ số 6G-I-45 tại số B, tổ B, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, việc ký kết Hợp đồng đặt cọc do các bên tự nguyện thỏa thuận, không ai bị ép buộc; hình thức hợp đồng được lập thành văn bản; nội dung, hình thức của hợp đồng đặt cọc không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại điều 116, 117, 119, 328 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

[2.2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Y tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc, ký hợp đồng chuyển nhượng và sang tên quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Y không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc bà Y không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng thuộc trường hợp một bên đơn phương chấm dứt thực hiện theo quy định tại Điều 422 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hợp đồng thuộc trường hợp chấm dứt thực hiện. Do vậy, yêu cầu buộc bà Y tiếp tục thực hiện hợp đồng là không có căn cứ pháp luật để chấp nhận.

[2.3] Về giải quyết hậu quả của việc chấm dứt thực hiện hợp đồng đặt cọc:

Bà T khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc, buộc bà Y tiếp tục thực hiện đồng đặt cọc, ký hợp đồng chuyển nhượng và sang tên quyền sử dụng đất nên quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là tranh chấp hợp đồng đặt cọc; bà Y đơn phương chấm dứt hợp đồng đặt cọc và tại phiên toà phúc thẩm các bên đương sự yêu cầu toà án giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng đặt cọc nên cần giải quyết triệt để vụ án và việc giải quyết hậu quả của việc chấm dứt thực hiện hợp đồng đặt cọc là phù hợp với quy định tại Điều 328 và Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2015.

Như đã nhận định trên, Hợp đồng đặt cọc ngày 03/11/2023 là thoả thuận đặt cọc giữa bên bán là bà T với bà Y, bà N và ông T2 về việc mua bán phần diện tích 32m² đất trên thuộc sở hữu chung của bà Y, bà N và ông T2 với bà T. Việc thoả thuận đặt cọc để mua bán đất được bà Y, bà N và ông T2 thống nhất thực hiện và giao cho bà Y đại diện thực hiện giao dịch, nhận tiền và làm thủ tục tách thửa để chuyển nhượng cho bà T nên việc bà Y không đồng ý tiếp tục thực hiện làm cho hợp đồng đặt cọc bị chấm dứt thực hiện được xác định lỗi hoàn toàn thuộc về bên bán là bà Y, bà N, ông T2, bên bán là bà Y, bà N, ông T2 phải liên đới trả lại số tiền cọc và phải chịu số tiền phạt cọc cho bên mua theo thoả thuận trong hợp đồng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu Y, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 296/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo những nội dung đã nhận định trên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T; Tuyên bố chấm dứt việc thực hiện Hợp đồng đặt cọc ngày 03/11/2023; Buộc bà Y, ông T2 và bà N liên đới trả lại bà T số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng và số tiền phạt cọc là 200.000.000 đồng.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội và Luật sư bảo vệ quyền lợi của các bên đương sự phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu Y là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q; Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 244, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 116, 117, 328; 422; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Sửa Bản án số 296/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội và quyết định cụ thể như sau:

  1. Không chấp nhận cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với bà Nguyễn Thị Thu Y về việc buộc bà Nguyễn Thị Y tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc, ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sang tên quyền sử dụng đất.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Thu Y, ông Nguyễn Mạnh T2 và bà Nguyễn Thị Kim N liên đới trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) và số tiền phạt cọc là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Tổng cộng, bà Nguyễn Thị Thu Y, ông Nguyễn Mạnh T2 và bà Nguyễn Thị Kim N liên đới trả cho bà Nguyễn Thị T tổng số tiền là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải thi hành, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300. 000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu Số 0064550 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Ông Nguyễn Mạnh T2 và bà Nguyễn Thị Kim N chịu án phí dân sự sơ thẩm mỗi người là 6.660.000 đồng (sáu triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị Thu Y là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Anh Tuấn

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 419/2025/DS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 419/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T - Bà Nguyễn Thị Thu Y
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger