Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 419/2024/DS-PT

Ngày 14 tháng 6 năm 2024.

V/v: “Tranh chấp đòi tài sản (QSDĐ) và

yêu cầu hủy GCN.QSDĐ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Vũ Ngọc Huynh

Ông Phan Tô Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 100/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp đòi tài sản (quyền sử dụng đất) và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 831/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Thái Hồng Đ, sinh năm 1964; Bà Tạ Thị Thu H, sinh năm 1969; Cùng cư trú: Tổ F, ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Kiều D, sinh năm 1983; Chỗ ở hiện nay: số H, đường T, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1965; Bà Thiều Thị Ánh N, sinh năm 1965; Cùng cư trú: Số C, Tổ F, ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1962; Nơi cư trú: ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang. Trụ sở: ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc L1 – Phó Chủ tịch (Đơn xin xét xử vắng mặt)

  3. Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1956; Nơi cư trú: tổ E, ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  4. Anh Nguyễn Thiều Phương N1, sinh năm 1998 (có mặt);
  5. Chị Nguyễn Thiều Nam P, sinh năm 1999 (có mặt);
  6. Cùng cư trú: Tổ F, ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của anh N1, chị P: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1965; Cư trú: Tổ F, ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người kháng cáo:

  1. Nguyên đơn: Ông Thái Hồng Đ và bà Tạ Thị Thu H.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn là ông Thái Hồng Đ và bà Tạ Thị Thu H trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là vào năm 1998, vợ chồng ông Đ, bà H và vợ chồng ông T, bà N cùng nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn T1 (đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất – (CGNQSDĐ), mỗi gia đình một nền đất thổ cư có cùng diện tích ngang mặt tiền là 4,85m, ngang hậu là 4,35m; chiều dài 21m (trừ cống 01m) với giá 30.000.000 đồng, đất tọa lạc tại tổ F, ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang, việc nhận chuyển nhượng bằng giấy tay. Sau khi nhận chuyển nhượng thì đã xây dựng nhà trên đất. Khi xây dựng nhà ở, ông Đ, bà H chỉ xây dựng diện tích ngang 4,20m, dài 20m, có chừa 0,65m phía bên phải để dành gắn máy lạnh và thông cửa sổ khi cần thiết. Đến năm 2002, tại huyện C có đoàn đo đạc cấp GCNQSDĐ đại trà cho những hộ dân sinh sống tại thị trấn C. Lúc này, do bộ phận đo đạc đo theo hiện trạng nhà để cấp giấy, nền nhà của ông bà chỉ được cấp GCN.QSDĐ ngang 4,20m, dài 20m theo GCNQSDĐ số 00216QSDĐ/dc ngày 31/5/2002 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 5008010047 ngày 29/8/2002.

Do diện tích đất ông, bà nhận chuyển nhượng còn một phần đất trống, nên ông T1, bà N có đề nghị xây bít ngang mặt tiền nhằm không có khoảng trống để kẻ xấu không vào được, chứ thật ra ông T1 không có xây lấn chiếm qua phần đất trống. Phía ngoài nhìn vào, có vẻ như phần đất trống này ông T1, bà N sử dụng, chứ thực chất đó là phần đất trống ngăn cách giữa hai nhà. Ông, bà chấp nhận việc để khoảng trống và che mặt tiền là vì an ninh chung.

Tuy nhiên, đến tháng 10 năm 2020, phía ông T1, bà N tiến hành sửa chữa nhà. Lúc này, ông T1 phá vách cũ để lấn sang phần đất trống nói trên. Việc làm của ông T1, bà N là chiếm hữu, quản lý, sử dụng phần đất trái phép của ông bà nên ông bà đứng ra tranh chấp. Khi tranh chấp ông bà mới biết được phần đất trống ông T1, bà N đã lén lút kê khai xin được cấp GCNQSDĐ. Do ông T1, bà N kê khai cấp GCNQSDĐ cả phần đất trống của ông, bà đã chừa lại trước đó. Nên ông bà khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSDĐ số AC 643738, ngày 23/12/2005 do Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp cho ông T1, bà N. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích ngang mắt tiền 0,65m, ngang hậu 0,25m, dài 20m, có tổng diện tích là 7,6m², tại các điểm 38,24,51,42 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/11/2021 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C, đất tọa lạc tại tổ F, ấp V, thị trấn C, huyện C, cho ông bà, đồng thời buộc ông T1, bà N phải tháo dỡ toàn bộ công trình kiến trúc trả lại diện tích đất nói trên cho ông bà.

* Bị đơn là ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N trình bày:

Năm 1998, ông Phạm Văn T1 có bán một thửa đất ngang 9,70m dài 21m, ngang hậu 8m,70, tọa lạc tại tổ F, ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. Ông T1 cùng với ông Đ mua và chia ra làm hai ngang mặt tiền là 4,85m. Đồng thời năm 1998, ông Đ xây dựng nhà muốn làm cho nền vuông góc nên còn dư chéo buồm nhỏ. Đến năm 1999, ông mới xây nhà, ông có trao đổi với ông Đ xin phần dư chéo buồm nhỏ cho ông làm bít luôn vì sợ khách vãng lai vào phóng uế và hút chích. Ông Đ đồng ý cho ông xây tường sát vách nhà ông hiện trạng vẫn còn giữ nguyên, ông Đ không có nhận tiền.

Vào năm 2002 ông Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2003 ông mới làm đơn xin cấp GCNQSDĐ và nhà ở, mãi đến năm 2005 ông mới chính thức được cấp GCNQSDĐ và nhà ở, trong hồ sơ đo đạc chính ông Đ là người ký tên giáp ranh và đã ở ổn định gần 20 năm không có tranh chấp. Đến năm 2020, ông sửa chữa nhà thì phát sinh tranh chấp.

Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì việc cấp GCNQSDĐ có nguyên đơn ký tứ cận và có biên bản kết thúc công khai việc cấp giấy, thông báo 15 ngày không tranh chấp. Ông T1, bà N sử dụng diện tích đất đúng theo GCNQSDĐ đã được cấp, đối với phần sau hậu sử dụng diện tích có ít hơn giấy được cấp.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, tuy nhiên có gởi Công văn số 470/UBND-VP ngày 23 tháng 6 năm 2022:

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N theo GCNQSDĐ có số vào sổ là H01983DC, diện tích 92,1m², thuộc thửa 47, tở bản đồ số 27, mục đích sử dụng đất là ODT, đất tọa lạc tại thị trấn C là đúng trình tự, thủ tục quy định.

Trong hồ sơ kỹ thuật khu đất nêu trên của ông T, bà N có thể hiện nhà ở trên đất và tại Biên bản đo đạc xác định ranh giới sử dụng đất ngày 06/5/2005 được ông Thái Hồng Đ và ông Lưu Hữu Q ký xác nhận tứ cận. Vì vậy, việc ông Đ, bà H yêu cầu hủy GCNQSDĐcó số vào sổ là H01983DC, cấp ngày 23/12/2005 do ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N đứng tên là chưa phù hợp.

4

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 138, Điều 140, Điều 166, Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu một phần cầu khởi kiện của ông Thái Hồng Đ và bà Tạ Thị Thu H.
  2. Buộc ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N trả lại giá trị diện tích đất 7,6m² với số tiền là 90.630.000 (chín mươi triệu, sáu trăm, ba mươi ngàn) đồng cho ông Thái Hồng Đ và bà Tạ Thị Thu H.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

    Ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N được quyền sử dụng diện tích đất 7,6m² tọa lạc tại tổ F, ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang, tại các điểm 38,24,51,42 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/11/2021 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C.

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 643738 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 23/12/2005 cho ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N, đất tọa lạc tại tổ F, ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/10/2023, nguyên đơn là ông Thái Hồng Đ và bà Tạ Thị Thu H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 28/9/2023, bị đơn là ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bảo lưu quan điểm đã trình bày ở cấp sơ thẩm. Trong vụ án này thiệt hại của phía nguyên đơn nhiều hơn bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn bảo lưu quan điểm đã trình bày ở cấp sơ thẩm, ông Nguyễn Đình T đã sử dụng thửa đất trên 20 năm không ai tranh chấp gì nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán; Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm.

Về nội dung:

Bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại phần giá trị cũa 7,6m² đất tranh chấp là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về tố tụng:

  • Đơn kháng cáo của ông Thái Hồng Đ, bà Tạ Thị Thu H, ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N làm trong hạn luật định và hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
  • Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, 34, 37, 38 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

  1. Nguyên đơn ông Thái Hồng Đ, bà Tạ Thị Thu H cho rằng phần đất ngang mặt tiền 0,65m, ngang hậu 0,25 dài 20m, tổng diện tích 7,6 m² đất tranh chấp là của nguyên đơn; năm 2020 bị đơn ông Nguyễn Đình T, bà Thiều Thị Ánh N2 đã phá vách nhà cũ, xây lấn sang phần đất 7,6 m² của nguyên đơn nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ công trình xây dựng, trả lại diện tích 7,6m² đất đã lấn chiếm cho nguyên đơn và yêu cầu hủy GCNQSDĐ do UBND huyện C đã cấp cho bị đơn

Bị đơn cho rằng năm 1999, bị đơn xây nhà có trao đổi với nguyên đơn để xin xây dựng bít luôn phần đất nêu trên và năm 2002 bị đơn làm hồ sơ cấp CGNQSDĐ thì nguyên đơn có ký giáp ranh nên bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét; theo hồ sơ vụ án thể hiện và quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều thống nhất thừa nhận diện tích 7,6 m² đất tranh chấp tại các điểm 38, 24, 51, 42 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/11/2021 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C có nguồn gốc do nguyên đơn và bị đơn cùng nhận chuyển nhượng diện tích chiều ngang mặt tiền là 4,85m, chiều ngang hậu là 4,35m, chiều dài 21m (trừ cống 01m) của ông Phạm Văn T1 vào năm 1998, thời điểm nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi chuyển nhượng đất thì phía nguyên đơn đã xây cất nhà. Do hiện trạng diện tích đất khi chuyển nhượng không được thẳng, ngang mặt tiền lớn hơn ngang mặt hậu, nên nguyên đơn xây dựng nhà cho ngay thẳng và có chừa lại một khoảng đất trống 7,6m² tại các điểm 38, 24, 51, 42 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/11/2021 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C, nhằm để lắp đặt máy lạnh hoặc thông cửa sổ khi cần thiết.

Đến năm 2003, nguyên đơn kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 84m² là diện tích đang sử dụng gắn liền căn nhà, đối với diện tích đất trống 7,6m² còn chừa lại thì chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2005, bị đơn tự đi đăng ký phần diện tích đất của bị đơn và đăng ký luôn phần đất trống 7,6 m² của nguyên đơn và năm 2020 bị đơn sửa chữa lại nhà thì đã lấn qua phần đất 7,6m² này.

Đồng thời phía bị đơn cũng thừa nhận khi nguyên đơn cất nhà có chừa lại phần đất trống như đã nêu trên và do bị đơn sợ kẻ xấu vào phóng uế, hút chích, nên bị đơn có xin nguyên đơn phần đất trống 7,6 m² xây bít để sử dụng, không chừa khoảng trống và khi đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị đơn đã kê khai luôn phần đất 7,6m² nêu trên. Tuy nhiên, phía nguyên đơn không thừa nhận đã cho bị đơn phần đất 7,6 m² tranh chấp và bị đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nguyên đơn có cho bị đơn diện tích 7,6 m².

Qua đó cho thấy, mặc dù nguyên đơn ông Đ, bà H chưa đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trống 7,6m² nhưng phần đất này vẫn thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn.

Đối với việc nguyên đơn ông Đ có ký tứ cận giáp ranh trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn ông T1, bà N chỉ là để tạo điều kiện thuận lợi cho ông T1, bà N được cấp giấy, điều này không có nghĩa là khi ký tứ cận giáp ranh là ông Đ, bà H đồng ý chuyển giao cho ông T1, bà H thừa hưởng quyền sử dụng đất trống đang tranh chấp. Nên, nguyên đơn khởi kiện đòi lại diện tích đất 7,6 m² là có cơ sở chấp nhận.

Tuy nhiên, do trên đất tranh chấp bị đơn ông T1, bà N đã xây dựng nhà kiên cố nếu buộc tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến các phần khác còn lại của căn nhà, nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn ông T1, bà N hoàn trả lại giá trị đất cho nguyên đơn ông Đ, bà H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều thống nhất giá đất theo biên bản định giá ngày 28/8/2023 của Hội đồng định giá là 11.925.000 đồng/m². Nên giá trị bị đơn phải bồi hoàn cho nguyên đơn là 7,6m² x 11.925.000 đồng/m² = 90.630.000 đồng.

  1. Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện C cấp cho bị đơn ông T1, bà N thì tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn đã rút lại yêu cầu này; việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không trái với đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy GCNQSDĐ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
  2. Từ những phân tích và nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của ông Thái Hồng Đ, bà Tạ Thị Thu H, ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Thái Hồng Đ, bà Tạ Thị Thu H, ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N, mỗi đương sự phải nộp 300.000 đồng theo quy định tại 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Thái Hồng Đ, bà Tạ Thị Thu H, ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 107/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thái Hồng Đ, bà Tạ Thị Thu H, ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N, mỗi đương sự phải nộp 300.000 đồng; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0000468, 0000469 ngày 17/10/2023, số 0000479, 0000480 ngày 18/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Cục THADS tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT (5), HS (2 -25b) (BA- TTPT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Phạm Trí Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 419/2024/DS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản (qsdđ) và yêu cầu hủy gcn.qsdđ

  • Số bản án: 419/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản (QSDĐ) và yêu cầu hủy GCN.QSDĐ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Thái Hồng Đ kiện Ông Nguyễn Đình T về “Tranh chấp đòi tài sản (quyền sử dụng đất) và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của ông Thái Hồng Đ, bà Tạ Thị Thu H, ông Nguyễn Đình T và bà Thiều Thị Ánh N; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 107/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger