Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————


Bản án số: 4189/2024/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/9/2024

V/v Ly hôn


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Khê

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Mai Thanh Giàu

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 819/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6367/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Lê Thị Song C, sinh năm: 1989 (có mặt)

Địa chỉ: 2 T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: ông Huỳnh Long C1, sinh năm: 1980 (có mặt)

Địa chỉ: 2 T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Song C trình bày:

Bà và ông Huỳnh Long C1 chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân Xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 05/9/2016. Sau ngày cưới chúng tôi sống chung tại Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian chung sống, lúc đầu hạnh phúc về sau không hạnh phúc do tính tình hai vợ chồng trái ngược nhau nên thường dẫn đến gây gổ. Hiện nay tình cảm vợ chồng rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà đã cố gắng hết sức nhưng không thể hàn gắn, đoàn tụ được, Bà xin dứt khoát ly hôn với ông Huỳnh Long C1. Về con chung: có 01 con chung tên Huỳnh Lê Nhã T, sinh ngày 21/8/2016. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Huỳnh Lê Nhã T và yêu cầu ông Huỳnh Long C1 cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng cho đến khi trẻ Huỳnh Lê Nhã T đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, bị đơn ông Huỳnh Long C1 trình bày:

Ông và bà Lê Thị S Chỉ sống với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuân cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 05/9/2016.

Sau ngày cưới chúng tôi sống chung tại Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian chung sống có mâu thuẫn nhưng là những mâu thuẫn nhỏ trong gia đình. Ông vẫn còn tình cảm và muốn hàn gắn hạnh phúc. Đồng thời tạo môi trường cho con cái phát triển. Nay bà Lê Thị S Chỉ xin ly hôn thì tôi không đồng ý ly hôn. Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Lê Nhã T, sinh ngày 07/9/2016. Trường hợp ly hôn, Tôi đồng ý giao bà Lê Thị Song C trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Huỳnh Lê Nhã T và cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi trẻ Huỳnh Lê Nhã T đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị Song C và ông Huỳnh Long C1 vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ, cấp, tống đạt văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng. Về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lê Thị Song C.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ông Huỳnh Long C1 và bà Lê Thị Song C tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn (số 72 do Ủy ban nhân dân Xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 05/9/2016). Nay bà Lê Thị S Chỉ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Long C1, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung nên đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà Lê Thị Song C và ông Huỳnh Long C1 đều có quốc tịch Việt Nam. Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải, làm việc tại Tòa án, bị đơn ông Huỳnh Long C1 xác định ông hiện đang cư trú tại địa chỉ 2 đường T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn xác định Bà và ông Huỳnh Long C1 không còn hạnh phúc do tính tình vợ chồng trái ngược nhau nên thường dẫn đến gây gổ. Nay Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho Bà được ly hôn với ông Huỳnh Long C1.

Bị đơn vẫn còn tình cảm và muốn hàn gắn hạnh phúc. Đồng thời tạo môi trường cho con cái phát triển nên không đồng ý ly hôn.

Hội đồng xét xử nhận thấy bà Lê Thị Song C và ông Huỳnh Long C1 chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân Xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 05/9/2016 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Giữa bà Lê Thị Song C và ông Huỳnh Long C1 trên thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Bà Lê Thị Song C và ông Huỳnh Long C1 do tính cách không hợp nhau dẫn tới thường xuyên cãi vã, gây gổ làm cho cuộc sống hôn nhân mất hạnh phúc. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Lê Thị Song C và ông Huỳnh Long C1 đã rạn nứt không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.

- Về con chung: Tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự thỏa thuận thống nhất với nhau về người trực tiếp nuôi dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Giao trẻ Huỳnh Lê Nhã T cho bà Lê Thị Song C trực tiếp nuôi dưỡng; Ông Huỳnh Long C1 cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng cho đến khi trẻ Huỳnh Lê Nhã T đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung; bị đơn không có yêu cầu phản tố về phần tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:


Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 do Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Song C với ông Huỳnh Long C1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 05/9/2016 do Ủy ban nhân dân Xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp cho ông Huỳnh Long C1 và bà Lê Thị S Chỉ không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: có 01 con chung tên Huỳnh Lê Nhã T, sinh ngày 21/8/2016.

Giao trẻ Huỳnh Lê Nhã T cho bà Lê Thị Song C trực tiếp nuôi dưỡng; Ông Huỳnh Long C1 cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng đến khi trẻ Huỳnh Lê Nhã T đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom, chăm sóc con chung để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Kể từ ngày bà Lê Thị S Chỉ có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Huỳnh Long C1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Lê Thị Song C phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Lê Thị Song C đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 26145 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Thủ Đức. Bà Lê Thị Song C đã nộp đủ án phí.

Án phí cấp dưỡng nuôi con là: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Huỳnh Long C1 phải nộp. Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


Nơi nhận:

  • - VKSND TPTĐ;
  • - THADS TPTĐ;
  • - Đương sự
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Nguyễn Xuân Khê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4189/2024/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 4189/2024/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Song Chỉ ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger