TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 418/2024/DS-ST
Ngày: 24/5/2024
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Trọng Thái
Ông Nguyễn Văn Lợi
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 23/4/2024, ngày 17/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 349/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2022 về việc: “tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-DS ngày 23/4/2024; tuyên án ngày 24/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Đào Văn M, sinh năm: 1963 (có mặt)
Địa chỉ: 72/1/18 C, phường B, quận P, TP ..
Tạm trú: 1 Q, Phường A, Quận G, TP ..
- Bị đơn: ông Đào Văn H, sinh năm: 1967 (có mặt)
Địa chỉ: 72/1/18 C, phường B, quận P, TP ..
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thúy N, sinh năm 1966; 2. Chị Đào Phương U, sinh năm 1995; 3. Anh Đào Xuân P, sinh năm 1997; 4. Anh Đào Xuân T, sinh năm 1997; 5. Anh Trần Văn N1, sinh năm 1988 (cùng có đơn xin vắng mặt).
- Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1956 (có mặt); 7. Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1956; 8. Chị Bùi Kim N2, sinh năm 1985; 9. Anh Bùi Nguyễn T1, sinh năm 1991 (bà L, chị N2 và anh T1 cùng có đơn xin vắng mặt).
- Ông Đào Văn T2, sinh năm 1960 (có mặt); 11. Bà Trần Thị Quỳnh H2, sinh năm 1964; 12. Anh Đào Trần T3, sinh năm 1997 (bà H2 và anh T3 cùng có đơn xin vắng mặt).
- Ông Đào Văn B, sinh năm 1958 (có mặt); 14. Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1957; 15. Chị Đào Thị Hoàng K, sinh năm 1984; 16. Anh Đào Hoàng S, sinh năm 1995; 17. Anh Phạm Văn N3, sinh năm 1969; trẻ Phạm Đình Yến V, sinh năm 2013 và trẻ Phạm Đình Gia H4, sinh năm 2015 do chị Đào Thị Hoàng K làm giám hộ (bà H3, chị K, anh S và anh N3 cùng có đơn xin vắng mặt).
Tất cả cùng địa chỉ: 7 C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/02/2018 của ông Đào Văn M và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ cụ Đào Văn C và cụ Bùi Thị T4 đều đã chết từ lâu ở ngoài Bắc, không có giấy khai sinh và giấy chứng tử, con cháu không biết mặt và cũng không nhớ thời gian chết.
Cha mẹ của ông Đào Văn M là cụ Đào Văn C (sinh năm 1932, chết ngày 27/5/1991) và cụ Bùi Thị T4 (sinh năm 1931, chết ngày 18/11/2021). Cụ C và cụ T4 chung sống với nhau không có giấy đăng ký kết hôn và có 05 người con chung là ông Bùi Văn H1, ông Đào Văn B, ông Đào Văn T2, ông Đào Văn M và ông Đào Văn H, không có con nuôi và con riêng nào khác.
Tài sản hai cụ tạo lập được là nhà và đất tại số B C (số mới 72/1/18 C), phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Gọi tắt là nhà 72/1/18 C) thuộc thửa đất số 07, tờ bản đồ số 41, diện tích 79,4m². Các cụ chết không để lại di chúc, các anh em cũng chưa làm thủ tục phân chia di sản thừa kế, khối tài sản trên hiện tại do ông H1, ông B, ông T2 và ông H trực tiếp quản lý, sử dụng. Ông M không thường xuyên ở đây vì không được tạo điều kiện thuận lợi để ở nên ông cũng không bỏ tiền xây dựng sửa chữa nhà, Vì vậy, ông chấp nhận hoàn lại phần giá trị xây dựng nhà cho các anh em ông.
Khi còn sống, mẹ ông M đã phân chia thửa đất thành năm phần cho các anh em sử dụng. Mỗi người đã tự xây dựng riêng biệt thành năm khối nhà có lối đi riêng biệt. Do ông M cùng vợ con đang ở G nên phần của ông M thuộc khúc thứ ba của căn nhà để lại cho mẹ ông sử dụng, khi nào mẹ mất ông sẽ nhận lại. Do phần đất của ông Đào Văn H (thuộc khúc thứ hai) và phần đất của ông được xây dựng thông nhau bởi một lối đi nhỏ nên ông có trao đổi với các anh em để sửa chữa phần của ông và ngăn tường riêng để ở nhưng các anh em không đồng ý và mâu thuẫn gia đình xảy ra. Vì vậy ông không thể nào về ở. Nay ông M yêu cầu Tòa án chia tài sản thừa kế đối với nhà đất 72/1/18 C, ông yêu cầu được chia 1/5 giá trị căn nhà là phần thứ 3 của thửa đất cha mẹ để lại tương đương 15,88m² để ông ngăn ra ở. Nếu ông H không đồng ý cho ông ngăn ra để ở thì ông yêu cầu phát mãi nhà đất để chia theo quy định của pháp luật và xin nhận 1/5 giá trị căn nhà bằng tiền. Ông đồng ý với kết quả thẩm định giá của Công ty cổ phần G1 ngày 29/8/2023.
Ông M tự nguyện chịu chi phí thẩm định, đo vẽ và định giá nhà.
Bị đơn ông Đào Văn H trình bày:
Ông H là con ruột của cụ C cụ T4. Hiện ông và gia đình đang cư trú tại nhà 7 C. Ông thống nhất với lời khai của ông M về quan hệ huyết thống; ngày chết của cha mẹ; ông bà nội, ông bà ngoại và xác nhận các cụ đều đã chết.
Ông cũng thống nhất về di sản cha mẹ để lại là thửa đất số 07, tờ bản đồ số 41, diện tích 79,4m² tại địa chỉ số G C mang tên Đào Văn C và Bùi Thị T4.
Hiện trạng nhà và đất gồm 05 phần có lối đi riêng biệt với tổng diện tích đất 79,4m²; tổng diện tích xây dựng 184,40m². Toàn bộ phần xây dựng nhà do ông, ông H1, ông B và ông T2 bỏ tiền xây dựng, sửa chữa nhiều lần trong nhiều năm mới có hiện trạng nhà như hiện nay. Gia đình ông thuộc diện xóa đói giảm nghèo và cũng được Ủy ban nhân dân phường hỗ trợ tiền sữa chữa nhà.
Gia đình ông hiện đang sử dụng phần số 2 và 3 của căn nhà vì hai phần này thông nhau. Ông có bỏ tiền sửa chữa, xây dựng phần số 2 là 300.000.000đồng. Còn phần số 3 của mẹ ông ở khi còn sống, ông H1 đã bỏ tiền để xây dựng cho mẹ ông ở, sau khi cụ T4 chết ông tiếp tục sử dụng đến nay. Ông cũng yêu cầu tính chi phí chăm lo cho cụ T4 từ ngày 01/01/1990 đến ngày chết 18/11/2021, chi phí 100.000đồng/ngày. Tuy nhiên, ông không còn giữ giấy tờ gì liên quan đến việc sửa nhà và ông cho rằng ông bò công sức, tiền của chăm mẹ thì không có giấy tờ gì.
Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông M vì nhà của cha mẹ để lại cho các anh em cùng ở và thờ cúng. Khi còn sống, mẹ ông đã phân chia theo phần để cùng nhau sử dụng đến nay. Tuy nhiên có phần nhà vệ sinh được sử dụng chung từ lúc mẹ ông còn sống nên ông M không được xây vách ngăn nhà vệ sinh lại. Còn phần thứ 3 đang để trống, không ai ở. Ông M có thể về ở nếu muốn. Ông không có ý kiến gì về kết quả định giá nhà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn H1 trình bày:
Ông H1 là con ruột của cụ C cụ T4. Hiện ông và gia đình đang cư trú tại nhà 7 C. Ông thống nhất với lời khai của ông M về quan hệ huyết thống và di sản cha mẹ để lại là nhà và đất số 72/1/18 C.
Gia đình ông hiện đang sử dụng phần số 4 của căn nhà. Ông đã bỏ tiền để xây dựng sửa chữa phần số 3 và 4 của căn nhà nhưng ông không còn giữ giấy tờ gì liên quan đến việc sửa nhà. Ông sửa phần số 3 cho cụ T4 ở khi còn sống và mẹ ông có nói khi nào cụ mất thì phần này để cho ông M về ở chứ không được bán. Sau khi cụTám chết, ông H vẫn đang tiếp tục sử dụng. Trường hợp ông M về ở, ông yêu cầu trả lại tiền xây dựng phần số 3 và 4 cho ông theo kết quả định giá. Ông không có ý kiến gì về kết quả định giá nhưng ông cho rằng kết quả định giá có sự chênh lệch nhiều, tuy nhiên, ông không yêu cầu định giá lại cũng như không mời bất kỳ công ty thẩm định giá nào khác. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M và có cùng ý kiến với ông H vì nhà của cha mẹ để lại cho các anh em cùng ở và thờ cúng..
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn T2 trình bày:
Ông T2 là con ruột của cụ C cụ T4. Hiện ông và gia đình đang cư trú tại nhà 7 C. Ông thống nhất với lời khai của ông M về quan hệ huyết thống và di sản cha mẹ để lại là nhà và đất số 72/1/18 C.
Gia đình ông hiện đang sử dụng phần số 1 của căn nhà. Nhà của cha mẹ để lại cho các anh em cùng ở và thờ cúng. Gia đình không ai tranh chấp phần số 3, phần này do ông H1 bỏ tiền sữa chữa và vẫn đồng ý cho ông M về ở. Hiện nay chỉ có ông H đang sử dụng nhà vệ sinh chung như trước giờ, phần số 3 đang để trống nên ông M có thể về ở nhưng không được ngăn riêng. Ông có bỏ tiền xây dựng sửa chữa nhà nhưng ông không còn giữ giấy tờ gì liên quan đến việc sửa nhà. Trường hợp ông M về ở, ông yêu cầu trả lại tiền xây dựng phần số 1 cho ông theo kết quả định giá. Ông không có ý kiến gì về kết quả định giá. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M và có cùng ý kiến với ông H.
Hiện ông đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 2468/2003, do Ủy ban nhân dân quận P cấp ngày 16/10/2003 cho ông Đào Văn C và bà Bùi Thị T4.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn B trình bày:
Ông B là con ruột của cụ C cụ T4. Hiện ông và gia đình đang cư trú tại số G C. Ông thống nhất với lời khai của ông M về quan hệ huyết thống và di sản cha mẹ để lại là nhà và đất số 72/1/18 C.
Gia đình ông hiện đang sử dụng phần số 5 của căn nhà. Nhà của cha mẹ để lại cho các anh em cùng ở và thờ cúng, ông M cứ về ở phần số 3, không được ngăn, chia. Ông có bỏ tiền xây dựng sửa chữa nhà nhưng ông không còn giữ giấy tờ gì liên quan đến việc sửa nhà. Trường hợp ông M về ở, ông yêu cầu trả lại tiền xây dựng phần số 5 cho ông theo kết quả định giá. Ông không có ý kiến gì về kết quả định giá. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M và có cùng ý kiến với ông H.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thúy N; chị Đào Phương U; anh Đào Xuân P; anh Đào Xuân T và anh Trần Văn N1 cùng thống nhất trình bày:
Bà N, chị U, anh P, anh T và anh N1 là vợ con của ông H. Tất cả hiện đang cư trú tại số G C. Vợ con ông H hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông H và không có ý kiến gì khác. Vợ con ông H cùng xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc L; chị Bùi Kim N2 và anh Bùi Nguyễn T1 cùng thống nhất trình bày:
Bà L, chị N2 và anh T1 là vợ con của ông H1, hiện đang cư trú tại số G C. Vợ con ông H1 hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông H1 và không có ý kiến gì khác. Vợ con ông H1 xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Quỳnh H2 và anh Đào Trần T3 cùng thống nhất trình bày:
Bà H2 và anh T3 là vợ con của ông T2, hiện đang cư trú tại số G C. Vợ con ông T2 hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông T2 và không có ý kiến gì khác. Vợ con ông T2 xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H3; chị Đào Thị Hoàng K; anh Đào Hoàng S; anh Phạm Văn N3; trẻ Phạm Đình Yến V, sinh năm 2013 và trẻ Phạm Đình Gia H4, sinh năm 2015 do chị Đào Thị Hoàng K làm giám hộ cùng thống nhất trình bày:
Bà H3, chị K, anh S, anh N3, trẻ V và trẻ H4 là vợ con và cháu của ông B. Tất cả hiện đang cư trú tại số G C. Vợ con ông B hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông B và không có ý kiến gì khác. Vợ con ông B cùng xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án chia thừa kế đối với nhà và đất tọa lạc tại 7 Cô G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông M yêu cầu được nhận 1/5 giá trị căn nhà theo kết quả định giá.
Bị đơn không đồng ý chia thừa kế vì nhà đất là của cha mẹ để lại cho anh em cùng ở, giữ gìn thờ cúng cha mẹ và không chấp nhận bán nhà để chia thừa kế theo yêu cầu nguyên đơn. Ông M muốn về ở thì cứ về, không ai cản trở nhưng phải trả lại tiền xây dựng, sửa chữa nhà mà các anh em đã bỏ ra.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng thống nhất ý kiến và yêu cầu của bị đơn ông H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, thời hạn xử lý đơn khởi kiện và phân công thẩm phán giải quyết hồ sơ còn chậm.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Thời hiệu khởi kiện còn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận. Xác định hàng thừa kế gồm 05 người. Di sản của cụ C cụ T4 để lại là nhà và đất tại số G Cô G, quận P. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sau khi trử đi các chi phí bán nhà theo quy định và trừ đi số tiền xây dựng, sửa chữa nhà thì chia di sản thừa kế thành 05 phần theo giá trị định giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về Thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Đào Văn M khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản với ông Đào Văn H hiện cư trú tại quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các ông/bà/anh/chị Nguyễn Thúy N, Đào Phương U, Đào Xuân P, Đào Xuân T, Trần Văn N1, Nguyễn Ngọc L, Bùi Kim N2, Bùi Nguyễn T1, Trần Thị Quỳnh H2, Đào Trần T5, Nguyễn Thị H3, Đào Thị Hoàng K, Đào Hoàng S1, Phạm Văn N3, trẻ Phạm Đình Yến V và trẻ Phạm Đình Gia H4 do chị Đào Thị Hoàng K làm giám hộ cùng có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án là hợp lệ, các đương sự này cũng đã có ý kiến trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung:
Về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế:
Cụ Đào Văn C chết ngày 27/5/1991 và cụ Bùi Thị T4 chết ngày 18/11/2021. Ngày 05/4/2022, ông M nộp khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế di sản của hai cụ là nhà và đất tại số G C. Căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015, Đ d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015, thì “... Thời hiệu để người thừa kế chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế ...”. Căn cứ theo khoản 2 Điều 17 Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của UBTVQH về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991, quy định: “Thời gian từ ngày 01 tháng 7 năm 1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực (ngày 01 tháng 01 năm 1999) không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”. Do đó, đối với di sản là nhà ở không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, thì từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện. Như vậy, thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ Đào Văn C và Bùi Thị T4 vẫn còn.
Về hàng thừa kế:
Các đương sự thừa nhận và thống nhất vào thời điểm hai cụ Đào Văn C và Bùi Thị T4 chết thì cha mẹ hai cụ đều đã chết. Hai cụ chết không để lại di chúc, không có con riêng, con nuôi. Do đó, di sản thừa kế của hai cụ được chia theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất là ông Bùi Văn H1, ông Đào Văn B, ông Đào Văn T2, ông Đào Văn M và ông Đào Văn H.
Về di sản thừa kế:
Căn cứ lời trình bày và thừa nhận của các đương sự về nguồn gốc nhà và đất 7 Cô G, quận P.
Căn cứ theo Công văn xác minh số 2022/UBND -TNMT ngày 29/12/2022 của Ủy ban nhân dân quận P có nội dung:
“Căn nhà 7 Cô G, quận P (số cũ 263/5) có nguồn gốc do ông Đào Văn C mua của ông Nguyễn Văn H5 năm 1958 bằng giấy tay, có chứng thực số 257 ngày 15/01/1958 của xã P.
Năm 1991 ông C chết theo giấy chứng tử số 18 ngày 27/5/1991 của Ủy ban nhân dân Phường B1, quận P; năm 1999 bà Bùi Thị T4 kê khai theo Tờ Đăng ký nhà đất, được Ủy ban nhân dân Phường B1, quận P xác nhận ngày 13/12/1999.
Năm 2003 bà Bùi Thị T4 lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, được Ủy ban nhân dân quận P cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2468/2003 ngày 16/10/2003 cho ông Đào Văn C (chết năm 1991) và bà Bùi Thị T4 đối với căn nhà 2 C, Phường B, quận P, đã trước bạ thừa kế theo Tờ khai lệ phí trước bạ ngày 17/02/2004 của Chi cục Thuế quận P, những người thừa kế di sản của ông Đào Văn C bao gồm các ông, bà: Bùi Thị T4, Bùi Văn H1, Đào Văn B, Đào Văn T2, Đào Văn M và Đào Văn H.
Năm 2004, Ủy ban nhân dân quận P ban hành Quyết định số 2595/QĐ-UB-QLĐT ngày 25/5/2004 về việc đổi số nhà cho bà Bùi Thị T4, từ số nhà cũ 263/5 Cô G thành số nhà mới 7 C, Phường B, quận P. Liên quan việc xây dựng, sửa chữa: Theo thông tin của Phòng Quản lý đô thị ghi nhận không có thông tin về việc cấp phép xây dựng, sửa chữa và xử phạt vi phạm hành chính liên quan”.
Như vậy, có đủ căn cứ pháp luật xác định căn nhà 7 C, Phường B là di sản của cụ Đào Văn C và cụ Bùi Thị T4 để lại cho 05 người con nên mỗi người được hưởng 01 kỷ phần tương đương với 1/5 trị giá nhà.
Căn cứ vào kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường B2, quận P thì hiện nay tại địa chỉ 72/1/18 C có 10 nhân khẩu đang thực tế cư trú và đăng ký thường trú gồm: ông T2, anh T5, chị N2, bà L, ông H1, anh T1, ông H, bà N, chị U và anh P. Ngoài ra, theo lời trình bày của các đương sự thì vợ con và cháu của ông H1, ông B, ông T2 và ông H cùng cư ngụ tại địa chỉ này và thường xuyên ở đây. Như vậy, các đương sự đều có nhu cầu về nhà ở nhưng xét không thể chia đều bằng hiện vật vì căn cứ vào Điều 5 Quyết định số 60/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố H quy định diện tích tối thiểu được tách thửa trên địa bàn quận P là 36m². Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2468/2003 ngày 16/10/2003 thì diện tích nhà đất là 79,4m² . Nếu tách thửa thì không đủ điều kiện để chia cho các đồng thừa kế theo hiện vật. Ngoài ra, anh em trong nhà lại không thuận thảo, vì vậy ông H, ông H1, ông B và ông T2 yêu cầu giữ nhà để ở và thờ cúng ông bà, cha mẹ là không có cơ sở. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của ông H, ông H1, ông B và ông T2 được giữ nhà mà cần thiết phải bán nhà để chia theo kỷ phần thừa kế, nhưng vẫn ưu tiên cho một trong các đồng thừa kế có khả năng, được quyền giữ nhà và hoàn lại giá trị theo kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế.
Ông M có yêu cầu cầu được chia 1/5 giá trị căn nhà là phần thứ 3 của thửa đất cha mẹ để lại tương đương 15,88m² để ông ngăn ra ở. Nếu ông H và các anh em không đồng ý cho ông ngăn ra để ở thì ông yêu cầu phát mãi nhà đất để chia theo quy định của pháp luật và xin nhận 1/5 giá trị căn nhà bằng tiền là có cơ sở chấp nhận.
Về việc tôn tạo di sản:
Đối với phần giá trị xây dựng nhà: ông H, ông H1, ông B và ông T2 cùng xác nhận đã bỏ tiền ra để sửa chữa nhà nhiều lần mới có hiện trang như hiện nay nên không đồng ý chia phần giá trị xây dựng cho các đồng thừa kế. Căn cứ trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân quận P thì Phòng Quản lý đô thị ghi nhận không có thông tin về việc cấp phép xây dựng, sửa chữa và xử phạt vi phạm hành chính liên quan. Tuy nhiên, căn cứ vào các Đơn xin phép sửa nhà bếp được Ủy ban nhân dân phường B1 chấp thuận ngày 26/12/1989, Phiếu đăng ký xây dựng công trình có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B1 ngày 17/3/2009 và Giấy phép xây dựng số 633/GPXD ngày 11/7/2011 do Ủy ban nhân dân Quận P cấp thể hiện căn nhà đã được sửa chữa, tôn tạo nhiều lần. Mặt khác, ông M cũng thừa nhận ông không ở căn nhà này thường xuyên nên không bỏ tiền để tôn tạo di sản. Vì vậy, ông chấp nhận hoàn lại phần giá trị xây dựng nhà cho các anh em ông là có cơ sở.
Ông H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định định giá và kết quả thẩm định giá của Công ty cổ phần G1 ngày 29/8/2023. Tại buổi hòa giải và tại phiên tòa, ông cho rằng kết quả định giá phần thứ 3 và 4 quá chênh lệch vì ông là người bỏ tiền ra sửa chữa lại hai phần này cùng một thời điểm nên ông đề nghị Tòa xem xét lại. Tuy nhiên, ông không có yêu cầu định giá lại cũng như không mời bất kỳ công ty thẩm định giá nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Di sản thừa kế của hai cụ ông Đào Văn C và Bùi Thị T4 được phân chia như sau:
Theo kết quả thẩm định giá của Công ty cổ phần G1 ngày 29/8/2023, thì tổng giá trị của nhà 72/1/18 C là 8.033.844.411,425 – làm tròn: 8.033.844.000 đồng. Trong đó giá trị quyền sử dụng đất là 7.361.650.400,00 đồng; giá trị xây dựng nhà là 672.194.011,425 đồng. Như vậy, giá trị quyền sử dụng đất của di sản thừa kế trên sẽ được chia đều cho các đồng thừa kế là ông H1, ông B, ông T2, ông M và ông H mỗi người được nhận kỷ phần là 1/5 (Một phần năm), tương đương 1.472.330.080 đồng tại thời điểm thẩm định giá tài sản.
Đối với phần giá trị xây dựng nhà là 672.194.011,425 đồng. Ông H1 được nhận tiền xây dựng nhà của phần số 3 là 93.593.000đồng và phần số 4 là 265.973.290,05 đồng; tổng cộng là 359.566.290,05 đồng. Ông B được nhận tiền xây dựng nhà của phần số 5 là 115.650.721,375 đồng. Ông T2 được nhận tiền xây dựng nhà của phần số 1 là 96.437.000đồng. Ông H được nhận tiền xây dựng nhà của phần số 2 là 100.540.000đồng tại thời điểm thẩm định giá tài sản sau khi bán nhà.
Về chi phí thẩm định, đo vẽ và định giá nhà đất: Nguyên đơn tự nguyện chịu.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: ông M, ông H, ông H1, ông B và ông T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản được hưởng trong khối di sản thừa kế là 56.169.902 đồng. Tuy nhiên, các đương sự đều đã trên 60 tuổi, riêng ông H thuộc trường hợp hộ nghèo có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B1, quận P và tất cả cùng có đơn xin miễn án phí nên được miễn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 165, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 và điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Xác định di sản của các cụ Đào Văn C và Bùi Thị T4 để lại là nhà đất tọa lạc tại 7 C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đào Văn C và cụ Bùi Thị T4 bao gồm ông Bùi Văn H1, sinh năm: 1956; ông Đào Văn B, sinh năm: 1958; ông Đào Văn T2, sinh năm: 1960; ông Đào Văn M, sinh năm: 1963; và ông Đào Văn H, sinh năm: 1967.
Nhà đất 7 C, Phường B, quận P được bán để chia (ưu tiên cho một trong các đồng thừa kế có khả năng, được quyền giữ nhà và hoàn lại giá trị theo kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế. Các đồng thừa kế có thể tự thỏa thuận bán nhà hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án bán nhà). Sau khi trừ đi các chi phí bán nhà theo quy định và trừ đi số tiền xây dựng, sửa chữa nhà cho ông H1 là 359.566.290,05 đồng; Ông B là 115.650.721,375 đồng; Ông T2 là 96.437.000đồng; Ông H là 100.540.000đồng; số tiền còn lại được chia cho các đồng thừa kế, mỗi người được nhận một kỷ phần là 1/5 giá trị nhà đất.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Chi phí thẩm định, đo vẽ và định giá nhà: Ghi nhận việc nguyên đơn ông Đào Văn M tự nguyện chịu.
- Án phí dân sự sơ thẩm: ông Bùi Văn H1, ông Đào Văn B, ông Đào Văn T2, ông Đào Văn M, và ông Đào Văn H mỗi người phải chịu 56.169.902 đồng.
Ông H1, ông B, ông T2 và ông M đều đã trên 60 tuổi, thuộc trường hợp người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí và được Hội đồng xét xử chấp nhận nên được miễn nộp tiền án phí
Ông Đào Văn H có đơn đề nghị miễn giảm án phí vì thuộc trường hợp hộ nghèo có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B1, quận P và được Hội đồng xét xử chấp nhận nên được miễn nộp tiền án phí
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND quận Phú Nhuận; - CC THADS quận Phú Nhuận; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thụy Bích Ngọc |
Bản án số 418/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 418/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về tài sản thừa kế với bị đơn
