|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG Bản án số: 418/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 – 12 – 2024. V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ Ông Nguyễn Thiện Hoàn;
2/ Ông Huỳnh Thanh Phong
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 276/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1069/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 1108/TB-TA ngày 22 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Mộng T, sinh năm 1988; địa chỉ: Số E, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số F, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà T trình bày:
Hôn nhân giữa bà T và ông T1 xác lập trên cơ sở tự nguyện vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ theo giấy chứng nhận kết hôn số 115/HT ngày 08/07/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, gần đây phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả. Nay, bà T yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Bà T và ông T1 có 03 con chung tên Trần Anh K, sinh ngày 15/7/2006; Trần Minh K1, sinh ngày 10/01/2011 và Trần Minh K2, sinh ngày 14/04/2017. Con chung tên K đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Con chung K1 và K2 hiên nay do bà T nuôi dạy. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là ông T1 không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.
Con chung là các cháu Trần Minh K1, Trần Minh K2 trình bày: Các cháu hiện sống với mẹ. Về nguyên nhân mâu thuẫn không biết. Nếu cha mẹ ly hôn thì muốn sống với mẹ.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên tự hàn gắn, chung sống lại nhưng bà T không đồng ý đoàn tụ, ông T1 vắng mặt. Tại phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ các đương sự không bổ sung chứng cứ mới.
Tại phiên tòa, bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong quá trình hòa giải, xác minh thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng... là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, tại phiên tòa thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân giữa bà T và ông T1 xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được thể hiện mâu thuẫn giữa hai người là có xảy ra, đời sống chung không thể tiếp tục. Vì vậy đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
- Về con chung: Cháu K1, K2 có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, giao con chung cho bà T được tiếp tục nuôi dạy.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà T không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với ông T1. Ông T1 đang cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã triệu tập hợp lệ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Xét yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông T1 thì thấy: Hôn nhân giữa bà T với ông T1 xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Mặc dù Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho ông, bà hàn gắn, chung sống lại nhưng bà T không đồng ý đoàn tụ, ông T1 vắng mặt. Điều này cho thấy mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[3] Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Anh K, sinh ngày 15/7/2006; Trần Minh K1, sinh ngày 10/01/2011 và Trần Minh K2, sinh ngày 14/04/2017.
Xét thấy: Con chung Trần Anh K đã thành niên nên không xem xét nguyện vọng; các cháu K1, K2 có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ khi cha, mẹ ly hôn và đang do mẹ nuôi dưỡng, ông T1 không có ý kiến về quyền nuôi con chung nên để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về tâm, sinh lý của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K2, K1 cho bà T tiếp tục nuôi dạy.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét buộc ông T1 phải cấp dưỡng. Trường hợp có tranh chấp về nghĩa vụ cấp dưỡng thì bà T có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, không đề cập trong phần quyết định. Trường hợp sau này ông, bà có tranh chấp về việc chia tài sản chung, giải quyết các khoản nợ chung thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[6] Về án phí: Do yêu cầu của bà T được chấp nhận nên bà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Mộng T được ly hôn ông Trần Văn T1.
- Về con chung: Giao Trần Minh K1, sinh ngày 10/01/2011 và Trần Minh K2, sinh ngày 14/04/2017 đang sống với bà T cho bà được tiếp tục nuôi dạy. Ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0010019 ngày 08/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.
|
* Nơi gửi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang B |
Bản án số 418/2024/HNGĐ-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 418/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
