Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 418/2024/DS-ST

Ngày 11 – 12 – 2024

V/v Tranh chấp hụi.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hân

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp
  • Bà Đoàn Thị Bẩy

– Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng – Là Thư ký Toà án nhân

dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau

xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 654/2024/TLST-DS, ngày 21

tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử

số: 520/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

– Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ N; Sinh năm: 1986; Địa chỉ cư trú: Nhà

không số, khóm V, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; (có mặt)

– Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ng (tên gọi khác là N1); Sinh năm: 1973; Địa

chỉ cư trú: Nhà không số, khóm V, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; (có mặt)

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Trọng K, sinh năm

1976; Địa chỉ cư trú: Nhà không số, khóm V, phường T, thành phố C, tỉnh Cà

Mau. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị Mỹ N trình bày tại đơn K kiện, quá trình giải quyết vụ án và

được bổ sung tại phiên toà như sau:

Bà có mở các dây hụi do bà làm chủ, loại hụi có lãi, từ tháng 8 năm 2022

đến năm 2023, bà Nguyễn Thị Ng có tham gia chơi hụi, cụ thể như sau:

– Dây hụi thứ nhất: Bà Ng tham gia chơi 01 chưng phần (chưng), hụi

mệnh giá 5.000.000 đồng, gồm 19 chưng, hụi 01 tháng khui 01 lần, bà Ng lĩnh

(hốt) ngày 09/10/2022, kỳ thứ 3, được số tiền 61.900.000 đồng, bà đã giao đủ

tiền cho bà Ng. Sau khi hốt hụi, bà Ng đóng lại hụi chết, còn nợ bà 10 kỳ

50.000.000 đồng; hụi mãn ngày 09/01/2024;

– Dây hụi thứ hai: Bà Ng tham gia chơi 02 chưng, mệnh giá 500.000

đồng; hụi khui ngày 25/6/2022 âm lịch, tổng cộng 43 chưng; bà Ng hốt chưng

thứ nhất vào ngày 15/8/2022 âm lịch được 14.810.000 đồng (lãi 155.000 đồng);

chưng thứ hai bà Ng hốt vào ngày 15/8/2022 (lãi 160.000 đồng) được

14.780.000 đồng, các lần hốt hụi bà đã giao đủ tiền cho bà Ng. Sau khi hốt bà

Ng còn nợ bà 12 kỳ của hai chưng hụi số tiền 12.000.000 đồng, hụi mãn ngày

25/7/2023 âm lịch.

Ngoài ra, trước đây bà Ng có tham gia chơi hụi ngày, tuần do bà làm chủ,

sau khi hốt, đóng lại hụi chết còn nợ lại 15.000.000 đồng, bà Ng đã ký nhận nợ

với bà.

Việc mở hụi, theo dõi giao dịch hụi, đối chiếu nợ đều có danh sách hụi

viên, bảng tính, bà Ng ký xác nhận nợ đầy đủ.

Tổng cộng nợ bà Ng nợ bà là 77.000.000 đồng, sau đó bà Ng trả được

500.000 đồng, còn 76.500.000 đồng, bà Ng đã ký xác nhận nợ ngày 09/02/2023

âm lịch. Sau thời gian bà Ng không đóng hụi chết lại cho bà, nên có thỏa thuận

bà cho bà Ng chơi 01 chưng hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui hai lần, cho bà

Ng hốt kỳ 1, được 19.700.000 đồng, bà Ng đồng ý sử dụng số tiền này trừ vào

khoản tiền nợ 76.500.000 đồng vào ngày 15/7/2023 âm lịch, còn nợ lại

56.800.000 đồng. Sau đó bà Ng đóng hụi chết lại cho bà không đầy đủ, tổng nợ

hụi các phần hụi bà Ng còn nợ là 85.800.000 đồng, bà Ng chỉ đóng thêm được

3.800.000 đồng còn lại 82.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà yêu cầu bà Ng, ông K

thanh toán 82.000.000 đồng; bà thay đổi yêu cầu, không yêu cầu thanh toán lãi

2.856.000 đồng như K kiện ban đầu. Bà xác định đây là nợ chung, khi bà Ng

chơi hụi thì ông K biết sự việc, bà Ng hốt hụi sử dụng tiền để chi phí sinh hoạt

gia đình.

Bà Nguyễn Thị Ng trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ

sung tại phiên tòa như sau:

Bà thừa nhận có tham gia chơi hụi đúng như bà N trình bày, bà xác định

đến ngày 09/02/2022 âm lịch bà hốt các phần hụi còn nợ lại hụi mới, hụi cũ

trước đó còn nợ lại tổng cộng là 77.000.000 đồng, bà trả được 500.000 đồng,

còn 76.500.000 đồng. Sau thời gian bà không có khả năng đóng hụi chết lại cho

bà N, nên có thỏa thuận bà N cho bà chơi 01 chưng hụi 1.000.000 đồng, mỗi

tháng khui hai lần, cho bà hốt kỳ 1, được 19.700.000 đồng, bà không nhận

khoản tiền hụi này mà bà N sử dụng số tiền này trừ vào khoản tiền nợ

76.500.000 đồng vào ngày 15/7/2023 âm lịch, còn nợ lại 56.800.000 đồng, sau

đó bà không đóng hụi chết lại cho bà N hai kỳ 2.000.000 đồng, bà và bà N chốt

nợ 58.800.000 đồng, do bà không nhận tiền hốt hụi 19.700.000 đồng nêu trên,

nên nay bà không đồng ý trả tiền hụi chết của chưng hụi này 29.000.000 đồng.

Ngoài ra, bà có trả thêm cho bà N được 3.800.000 đồng đúng như bà N trình

bày. Bà chỉ đồng ý thanh toán cho bà N 76.500.000 đồng, không đồng ý thanh

toán 82.000.000 đồng như bà N yêu cầu.

Bà và ông K chung sống vào khoảng tháng 5/2022, không đăng ký kết

hôn. Việc bà tham gia chơi hụi thì ông K không biết, không liên quan, không sử

dụng tiền hụi, tiền hốt hụi bà sử dụng vào công việc làm ăn, sau khi có thu nhập

thì sử dụng vào mục đích chi phí sinh hoạt của gia đình. Bà xác định là nợ riêng

của bà, không yêu cầu ông K cùng thanh toán cho bà N.

Ông Phan Trọng K trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Ông không đồng ý yêu cầu của bà N, việc bà Ng tham gia chơi hụi thì ông

không biết, không liên quan. Ông và bà Ng chung sống năm 2023, không đăng

ký kết hôn. Ông K xin vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hụi.

Ông K xin vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt ông K không

ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố

tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông K theo quy định.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N K kiện yêu cầu bị đơn

bà Nguyễn Thị Ng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Trọng K

thanh toán số tiền nợ hụi và lãi 84.856.000 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa nguyên

đơn chỉ yêu cầu bà Ng, ông K thanh toán 82.000.000 đồng, không yêu cầu thêm

khoản nào khác. Nguyên đơn cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của

mình là các danh sách hụi, giấy theo dõi tính hụi, đối chiếu nợ bà Ng có ký tên.

Tại phiên tòa, bị đơn chỉ đồng ý thanh toán 76.500.000 đồng đã chốt nợ ngày

09/02/2022 âm lịch, không đồng ý thanh toán 82.000.000 đồng theo yêu cầu

nguyên đơn, bà Ng không đồng ý tính chưng hụi ngày 15/7/2023 âm lịch vì bà

không nhận khoản tiền hốt hụi 19.700.00 đồng, nên không đồng ý đóng lại hụi chết

29.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, giao dịch hụi giữa nguyên đơn và bị

đơn có diễn ra thực tế, khách quan. Theo chứng cứ gồm các danh sách hụi; giấy

theo dõi tính hụi, đối chiếu nợ bà Ng có ký tên xác nhận khoản nợ 76.500.000

đồng. Đối với chưng hụi mở ngày 15/7/2023 âm lịch, hốt kỳ đầu số tiền

19.700.000 đồng, theo các chứng cứ và trình bày của các đương sự thể hiện giữa bà

N và bà Ng thỏa thuận bà Ng hốt chưng hụi này được 19.700.000 đồng trừ vào số

tiền nợ 76.500.000 đồng còn 56.800.000 đồng, sau đó bà Ng không đóng lại hụi

chết hai kỳ ngày 15/8/2023 là 2.000.000 đồng, tổng nợ 58.800.000 đồng phù hợp

với giấy tính tiền, đối chiếu nợ giữa các bên do bà Ng cung cấp. Như vậy, có cơ sở

xác định việc bà Ng có tham gia chơi chưng hụi ngày 15/7/2023 là đúng sự thật, bà

Ng đã hốt chưng hụi này, nên phải có nghĩa vụ đóng lại hụi chết cho chủ hụi (bà N)

29.000.000 đồng. Việc bà Ng cho rằng bà không nhận tiền 19.700.000 đồng, nên

không đồng ý đóng hụi chết là không có cơ sở chấp nhận. Xét thấy, đến nay bị đơn

không thanh toán đủ tiền nợ hụi cho nguyên đơn, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán

với nguyên đơn. Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bà Ng và ông K

thanh toán 82.000.000 đồng, không yêu cầu thêm khoản nào khác. Xét thấy, việc

thay đổi yêu cầu này là sự tự nguyện của nguyên đơn và có lợi cho bị đơn, nên

được chấp nhận. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn

thanh toán cho nguyên đơn nợ hụi 82.000.000 đồng.

[3] Về trách nhiệm thanh toán: Nguyên đơn cho rằng đây là nợ chung và yêu

cầu ông K và bà Ng cùng thanh toán. Bà Ng và ông K cho rằng là nợ riêng của bà

Ng, ông K không liên quan. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại phiên tòa bà Ng xác

định bà và ông K chung sống vào tháng 5/2022 âm lịch, còn hụi bắt đầu mở ngày

09/8/2022 âm lịch. Bà Ng xác định bà nhận tiền hốt hụi sử dụng mục đích làm ăn,

có thu nhập thì sử dụng chi phí sinh hoạt gia đình. Mặc dù, ông K và bà Ng không

đăng ký kết hôn, nhưng nợ hụi trong thời kỳ chung sống như vợ chồng, nên xác

định đây là nợ chung. Do đó, buộc ông K và bà Ng cùng có nghĩa vụ liên đới thanh

toán nợ cho bà N là có căn cứ.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm, đương sự phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 288, 471 của Bộ luật dân sự; Điều 14, 16, 27, 37 của Luật

Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu K kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ N, về việc yêu cầu

bà Nguyễn Thị Ng (N1) và ông Phan Trọng K thanh toán tiền nợ hụi.

Buộc bà Nguyễn Thị Ng (N1) và ông Phan Trọng K có nghĩa vụ thanh toán

cho bà Nguyễn Thị Mỹ N số tiền 82.000.000 đồng.

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Mỹ N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà

Nguyễn Thị Ng (N1) và ông Phan Trọng K không thanh toán xong khoản tiền

trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại

khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với

thời gian chậm thi hành.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị Mỹ N không phải nộp

án phí, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.121.000 đồng theo biên lai

thu số 0009519 ngày 18/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà

Mau. Bà Nguyễn Thị Ng (N1), ông Phan Trọng K phải nộp 4.100.000 đồng

(chưa nộp), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều

30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Cà Mau;
  • -VKSND thành phố Cà Mau;
  • -Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu TM (TANDTPCM).

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Hân

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đoàn Thị Bẩy – Nguyễn Thị Ngọc Điệp

Nguyễn Thị Ngọc Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 418/2024/DS-ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 418/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger