TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 418/2024/HNGĐ-ST | |
Ngày: 25 - 9 - 2024 | |
V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Ngọc Đăng
- 2. Ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: không tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 348/2024/HNGĐST ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 432/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Ngọc Á, sinh năm 2002; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm B, xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: 224 K, Y, ON M9N 1L7, T, Canada. Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim A, sinh năm 1974. Địa chỉ: Xóm B, xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An. (Uỷ quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2000; Nơi ĐKHKTT: Số nhà B, ngách B, ngõ A, đường L, K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đang chấp hành án tại Trại giam S, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/04/2024, Bản tự khai và đề nghị không hoà giải, xin giải quyết vắng mặt, nguyên đơn chị Hoàng Thị Ngọc Á trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh N tự nguyện kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 22/12/2021 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống và cách nhìn nhận cuộc sống có nhiều khác biệt dẫn đến tình cảm rạn nứt. Sau khi chị đi xuất khẩu lao động tại Canada, do khoảng cách địa lý quá xa, vợ chồng không thường xuyên liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Hiện nay xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Á yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn N chưa có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 11/9/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Á tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72, ngày 22/12/2021 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 chị Á đi xuất khẩu lao động tại Canada. Từ đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do khoảng cách địa lý, vợ chồng xa cách nhau, không quan tâm nhau về vật chất lẫn tinh thần. Nay chị Á khởi kiện ly hôn với anh N thì anh N đồng ý và đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn.
- Về con chung: Anh và chị Á chưa có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do hiện nay, anh đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam S Bộ C nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt anh trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 15 tháng 4 năm 2024, chị Hoàng Thị Ngọc Á có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị Á đăng kí hộ khẩu thường trú tại xóm B, xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An còn anh N có hộ khẩu thường trú tại số nhà B, ngách B, ngõ A, đường L, khối G, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; chị Á hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại T, Canada nên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị Ngọc Á không thể tham gia hoà giải được do đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc còn anh Nguyễn Văn N hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam S, huyện T nên cũng xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Do đó vụ án không tiến hành hoà giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn đều có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Ngọc Á:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Ngọc Á và anh Nguyễn Văn N được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, sau khi chị Á đi xuất khẩu lao động tại Canada thì tình trạng vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm nhau về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Tại bản tự khai, anh N cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý giải quyết ly hôn. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài nhưng đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì đề đoàn tụ, cả hai đều yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Á yêu cầu giải quyết ly hôn và anh N đồng ý ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân - Gia đình nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn này của hai anh chị.
[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của cả nguyên đơn và bị đơn thì chị Hoàng Thị Ngọc Á và anh Nguyễn Văn N hiện nay không có con chung nên Toà án không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn đều không yêu cầu Toà án giải quyết vì vậy Toà án không xem xét.
[4] Về án phí: Chị Hoàng Thị Ngọc Á và anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Ngọc Á.
- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn chị Hoàng Thị Ngọc Á và anh Nguyễn Văn N.
- Về quan hệ con chung: Chị Hoàng Thị Ngọc Á và anh Nguyễn Văn N không có con chung nên Toà án không giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị Ngọc Á và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị Ngọc Á phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 001347 ngày 23/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho chị Á số tiền tạm ứng án phí 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
Anh Nguyễn Văn N phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. (Anh N chưa nộp).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Hoàng Thị Ngọc Á có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tổng đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 418/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 418/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị A và anh N
