TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 418/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-4-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Thanh Thà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Long;
2. Bà Lê Thúy Dương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1074/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023, về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 127/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Kim H, sinh năm 1996 (có mặt);
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 10, Ấp 6B, xã M, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lê Quang Đ, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 9A, xã Đ, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 11/7/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị Kim H trình bày:
Bà và ông Lê Quang Đ tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2016, đã được Ủy ban nhân dân xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 113 ngày 19/12/2016. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng về sau bà và ông Đ bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hiểu nhau, có nhiều khác biệt về cách sống, thường xuyên cãi nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Sau những mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn, bà và ông Đ không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Quang Đ.
Về con chung: Bà Hồ Thị Kim H xác định không có không có.
Về tài sản chung: Bà Hồ Thị Kim H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà Hồ Thị Kim H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính), căn cước công dân bà Hồng, ông Đ (bản phô tô).
Ông Lê Quang Đ đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Đ.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Lê Quang Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
Bị đơn ông Lê Quang Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Kim H và ông Lê Quang Đ tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 113 ngày 19/12/2016 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của bà Hồ Thị Kim H xin ly hôn với ông Lê Quang Đ là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà Hồng thì mâu thuẫn giữa bà và ông Đ là trầm trọng và không thể hàn gắn. Nguyên nhân do vợ chồng không hiểu nhau, có nhiều khác biệt về cách sống, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Đ không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án chứng tỏ ông Đ không có thiện chí để đoàn tụ gia đình.
Ông Lê Quang Đ đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh có liên quan đến vụ án. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ căn cứ theo các tài liệu chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp và chứng cứ mà Tòa thu thập được theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.
Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà Hồng và ông Đ không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Nguyên đơn xác định không có.
Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do ông Lê Quang Đ vắng mặt tại phiên tòa nên ông Đ có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết trong vụ án khác.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần buộc bà Hồ Thị Kim H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Kim H.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Kim H được ly hôn với ông Lê Quang Đ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 113 ngày 19/12/2016 của Ủy ban nhân dân xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Hồ Thị Kim H và ông Lê Quang Đ không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Nguyên đơn xác định không có.
Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có.
Nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có.
Nếu ông Lê Quang Đ có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết trong vụ án khác.
Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) buộc bà Hồ Thị Kim H phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0018175 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Thanh Thà |
4
Bản án số 418/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 418/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hồ Thị Kim H ly hôn với ông Lê Quang Đ
