|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 418/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04/3/2025
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thanh Giàu
- Ông Phạm Văn Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ – Kiểm sát viên
Trong ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số : 2038/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 740/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 524/2025/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh D, sinh năm: 1979 (có mặt)
Địa chỉ: số A N, khu phố M, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Trương Thị Hồng H1, sinh năm: 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: số I đường H, khu phố M, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Huỳnh Thanh D trình bày: ông D và bà Trương Thị Hồng H1 tự nguyện sống chung và đăng ký kết hôn ngày 27 tháng 3 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân từ vấn đề kinh tế gia đình, cả hai không có sự thông cảm, chia sẻ với nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm trở nên lạnh nhạt rồi không chung sống với nhau từ đó. Nay xác định không còn khả năng hàn gắn nên ông D yêu cầu được ly hôn để cả hai ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: ông D khai hai vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Thanh P, sinh ngày 31/5/2003 (đã trưởng thành) và Huỳnh Phúc Đ, sinh ngày 11/10/2009. Trẻ Đ hiện do bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng nên ông yêu cầu giao trẻ Đ cho bà H1 tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn, ông không cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: ông Dương T khai không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập cho bà Trương Thị Hồng H1 đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng bà H1 đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Ông Huỳnh Thanh D có mặt va vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn bà Trương Thị Hồng H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, về quan hệ hôn nhân: Cho ông Huỳnh Thanh D được ly hôn với bà Trương Thị Hồng H1; Về con chung: do trẻ Đ có nguyện vọng được ở với mẹ, để bảo đảm điều kiện sống hiện tại cho trẻ Đ nên giao trẻ Đ cho bà H1 tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Tài sản chung, nợ chung: Không có; Về án phí: ông D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Huỳnh Thanh D nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Trương Thị Hồng H1, bà H1 có nơi cư trú tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Trương Thị Hồng H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H1.
[3] Xét yêu cầu của đương sự:
Ông Huỳnh Thanh D và bà Trương Thị Hồng H1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 27 tháng 3 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26 – quyển số 01/2003 nên hôn nhân giữa ông D và bà H1 là hợp pháp.
Theo lời khai của ông D thì vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về tiền bạc trong gia đình, không có sự thông cảm, chia sẻ với nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm trở nên lạnh nhạt. Vợ chồng tự ý không sống chung với nhau từ đó và không có khả năng hàn gắn nên ông D yêu cầu được ly hôn với bà H1.
Bà H1 không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định. Điều đó chứng tỏ bà H1 bỏ mặc, không còn quan tâm đến hôn nhân giữa bà và ông D. Xét thấy lời khai của ông D là phù hợp với thực tế nêu trên, mâu thuẫn giữa ông D và bà H1 đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét thấy yêu cầu ly hôn của ông Huỳnh Thanh D đối với bà Trương Thị Hồng H1 là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Theo tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày thì ông D và bà H1 có 02 người con chung tên Huỳnh Thanh P, sinh ngày 31/5/2003 và Huỳnh Phúc Đ, sinh ngày 11/10/2009. Con chung Huỳnh Thanh P đã trưởng thành, con chung Huỳnh Phúc Đ hiện đang chung sống với bà H1. Tại bản trình bày nguyện vọng của trẻ Đ thực hiện tại Tòa án cũng thể hiện nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Do đó, để đảm bảo duy trì sự phát triển ổn định về mọi mặt của trẻ, căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét thấy yêu cầu của ông D giao trẻ Đ cho bà H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và nguyện vọng của trẻ nên có căn cứ chấp nhận. Do bà H1 không đến Tòa án, không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng cho trẻ Đ nên không có cơ sở xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: ông Dương T khai không có nên Tòa án không xem xét.
[4] Về án phí sơ thẩm: ông Huỳnh Thanh D phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Thanh D được ly hôn với bà Trương Thị Hồng H1.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 26 – quyển số 01/2003 ngày 27 tháng 3 năm 2003 do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Huỳnh Thanh D và bà Trương Thị Hồng H1 không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Con chung Huỳnh Thanh P đã trưởng thành. Giao con chung Huỳnh Phúc Đ, sinh ngày 11/10/2009 cho bà Trương Thị Hồng H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Thanh D không cấp dưỡng nuôi con.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức tiền cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc của người không trực tiếp nuôi con
- - Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự tự khai không có.
- Về án phí: ông Huỳnh Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng số: 0042401 ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông D đã nộp đủ án phí.
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Cẩm Hiền |
4
Bản án số 418/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 418/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn đơn phương
