|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 418/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/12/2024 Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định, bà Dương Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 586/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/11/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 539/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1991. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Nhật Bản.
Người được chị V ủy quyền giao, nhận văn bản: Chị Lê Thị Bình T, sinh năm 1996. Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị đơn: Anh Bùi Đức T1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số B Đ, khu H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các văn bản gửi cho Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V trình bày: Chị và anh Bùi Đức T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 09/10/2013. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống khác nhau. Năm 2018 chị đi lao động tại Nhật Bản dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Hai bên đã tìm nhiều biện pháp khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh T1.
Chị với anh T1 có một con chung là Bùi Hà M- sinh ngày 13/4/2014. Chị đề nghị Tòa án giao cháu M cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng và chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/tháng cho tới khi cháu M đủ 18 tuổi.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, chị T đã thông báo cho chị V biết. Chị V giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.
Quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, bị đơn là anh Bùi Đức T1 trình bày thống nhất với chị Nguyễn Thị V về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung của vợ chồng. Từ năm 2016, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong xử lý các vấn đề của cuộc sống và làm ăn kinh tế. Do chị V đi lao động tại Nhật Bản nên vợ chồng đã sống xa nhau từ năm 2018 đến nay. Số lần vợ chồng liên lạc với nhau ngày càng ít. Có lần chị V về Việt Nam nghỉ phép nhưng cũng không về đoàn tụ cùng anh. Mặc dù hai bên gia đình nhiều lần khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện hai bên không còn tình cảm vợ chồng và không thể đoàn tụ cùng nhau nên anh tự nguyện nhất trí ly hôn chị V. Anh nhất trí trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bùi Hà M- sinh ngày 13/4/2014 cho tới khi thành niên và tự nguyện không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Bùi Đức T1. Giao con chung Bùi Hà M- sinh ngày 13/4/2014 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T1 không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Buộc chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị V hiện đang sinh sống tại Nhật Bản. Anh Bùi Đức T1 hiện đang sinh sống tại thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và đều có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Bùi Đức T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 09/10/2013. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Trình bày của các đương sự phù hợp với nhau nên có căn cứ xác định cuộc sống chung giữa chị V và anh T1 không hòa hợp do khác biệt về quan điểm và cách xử lý các vấn đề phát sinh trong cuộc sống. Mặc dù đã được gia đình hòa giải, động viên nhưng vợ chồng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay không có biện pháp đoàn tụ. Hiện cả hai bên đều xác định không còn tình cảm vợ chồng với nhau. Nhận thấy hôn nhân giữa chị V và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị V xin ly hôn anh T1, anh T1 nhất trí ly hôn chị V nhưng vì các đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa nên cần xử cho chị V được ly hôn anh T1 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị V và anh T1 có một con chung là Bùi Hà M- sinh ngày 13/4/2014. Các đương sự thống nhất giao con chung cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của cháu M muốn được ở cùng anh T1 nên được chấp nhận. Anh T2 không yêu cầu chị V phải đóng góp tiền nuôi con chung cùng anh là tự nguyện nên cần chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Bùi Đức T1.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Bùi Hà M- sinh ngày 13/4/2014 cho anh Bùi Đức T1 trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T1 không yêu cầu chị Nguyễn Thị V phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (do chị Lê Thị Bình T nộp thay) theo biên lai số 0005307 ngày 06/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị V đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
Bản án số 418/2024/HNGĐ-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 418/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị V xin ly hôn anh T