|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 418/2024/DS-PT Ngày: 14 - 6 - 2024 V/v: “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thúy Cầu |
| Các Thẩm phán: | Ông Chung Văn Kết |
| Ông Cao Văn Tám |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến, kiểm sát viên.
Từ ngày 10 đến 14-6-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 586/2023/TLPT-DS ngày 06-10-2023 về “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 28-6-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3078/2024/QĐ-PT ngày 15-5-2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bạch Thanh H, sinh năm 1965; địa chỉ: số H, ấp B, xã Đ, huyện Đ, Long An (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H: Luật sư Bùi Trường C, Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt, 14-6-2024: Không có mặt).
Bị đơn:
- Ông Bạch Thanh S (H1), sinh năm 1961; địa chỉ: số H, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
- Bà Bạch Thanh T, sinh năm 1956; địa chỉ: số A T, Phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông S (H1), bà T: Luật sư Trương Thị H2 - Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bạch Thanh S (T1), sinh năm 1959; địa chỉ: khu phố A, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc: số H, ấp B, xã Đ, huyện Đ, Long An (có mặt).
- Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1971; địa chỉ: khu phố C, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc: số H, ấp B, xã Đ, huyện Đ, Long An (có mặt).
- Ông Lê Thanh P1, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. - Ông Phạm Văn N, sinh năm: 1957; địa chỉ: Số A T, K, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An; địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thanh H3 (Bạch Thanh L),
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông S (T1): Luật sư Bùi Trường C - Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt, 14-6-2024: Không có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P: Luật sư Bùi Trường C, Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt, 14-6-2024: Không có mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn Đ - Phó phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ (vắng mặt).
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Bạch Thanh S, bà Bạch Thanh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Bạch Thanh H trình bày: Mẹ của ông là bà Võ Thị D (chết 1990) và cha ông là Bạch Thanh H4 (chết 2008). Cha mẹ ông có 04 người con gồm: Bạch Thanh T, Bạch Thanh H, Bạch Thanh S (H1), Bạch Thanh S (T1). Ngoài ra, bà Võ Thị D còn có một người con riêng tên Võ Thị Ngọc N1 (chết 1972). Bà N1 có một người con là Nguyễn Thanh P. Ngoài ra, cha, mẹ ông không còn người con riêng hay con nuôi nào khác. Khi mẹ ông chết có để lại hai thửa đất như sau:
- Thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22, diện tích đo đạc thực tế 6.071,9m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (thửa 481), hiện do ông Bạch Thanh S (H1) đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 382, tờ bản đồ số 27, diện tích đo đạc thực tế 1.821,5m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (thửa 382), hiện do bà Bạch Thanh T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi mẹ ông mất, năm 2005 ông S (H1) và bà T đã tự ý đi kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai thửa đất trên mà
không thông qua thủ tục thừa kế làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông nên ông khởi kiện yêu cầu như sau:
Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp cho ông Bạch Thanh S (H1) đối với thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp cho bà Bạch Thanh T đối với thửa đất số 382, tờ bản đồ số 27 vì việc cấp giấy này không thông qua thủ tục thừa kế là sai quy định.
- Yêu cầu Tòa án công nhận hai thửa đất nêu trên là di sản thừa kế của bà Võ Thị D chết để lại và chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản nêu trên cho ông được nhận 1/5 diện tích đất ở mỗi thửa đất nêu trên.
Riêng đối với số vàng 11 chỉ vàng 24K chi phí chữa bệnh cho mẹ ông khi còn sống. Trường hợp chia thừa kế quyền sử dụng đất nêu trên, ông sẽ cùng ông Bạch Thanh S (T1) và ông Nguyễn Thanh P tự nguyện liên đới thanh toán lại cho bà Bạch Thanh T toàn bộ 11 chỉ vàng 24K nêu trên.
Ngoài ra, trên thửa đất số 382 còn có một cây xoài, một cây khế, một vài bụi tre và các cây tạp khác không có giá trị lớn nên không yêu cầu chia. Nếu sau này các cây cối trên nằm trên phần đất của ai thì người đó sử dụng. Ông không tranh chấp đối với các cây cối này.
Bị đơn ông Bạch Thanh S (H1) trình bày: ông thống nhất với lời trình bày của ông H về cha, mẹ và các anh chị em ruột trong gia đình. Hai thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22 và thửa đất số 382, tờ bản đồ số 27 cùng tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An là của mẹ ông. Tuy nhiên, khi mẹ ông mất, ông là người có công sức đóng góp trong việc giữ gìn và phát triển phần tài sản này. Hiện nay, ông đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22, còn thửa đất số 382, tờ bản đồ số 27 do bà Bạch Thanh T đang đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lý do, khi mẹ ông bệnh chết để lại số nợ khá lớn (11 chỉ vàng 24K mượn của Bạch Thanh T) nên đã bỏ đi, ông ở lại giải quyết số nợ này thì ông được toàn quyền quyết định đối với phần đất mẹ ông để lại.
Ngoài ra, khi mẹ ông bệnh thì bà T có cho mượn 11 cây vàng 24K để chữa bệnh cho mẹ, khi mẹ ông còn sống cũng có di nguyện sẽ bán phần đất ruộng (thửa 481) để trả tiền chữa bệnh. Nay ông không đồng ý chia thừa kế thửa đất số 481. Riêng đối với thửa đất số 382, tờ bản đồ số 27 hiện bà T đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông đồng ý chia cho bà Bạch Thanh T, Bạch Thanh S (T1) và Bạch Thanh H mỗi người một phần 150m², còn lại bao nhiêu là phần của ông vì ông có công sức bảo quản, gìn giữ thửa đất này mới còn đến ngày hôm nay. Ngoài ra, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Bạch Thanh T trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông H về cha, mẹ và các anh chị em ruột trong gia đình. Hai thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22 và thửa số 382, tờ bản đồ số 27 cùng tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An là của mẹ bà chết
để lại. Hiện nay, ông Bạch Thanh S (H1) đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22, còn thửa đất số 382, tờ bản đồ số 27 hiện do bà đang đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi mẹ bà bệnh thì mẹ bà có mượn bà 1 chỉ vàng 24K để chữa bệnh. Nay bà thống nhất với lời trình bày của ông S (H1), ngoài ra bà không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bạch Thanh S (T1) trình bày: ông thống nhất với lời trình bày của ông H về cha, mẹ và các anh chị em ruột trong gia đình. Hai thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22 và thửa số 382, tờ bản đồ số 27 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An là của mẹ bà chết để lại. Hiện nay, ông Bạch Thanh S (H1) đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22, còn thửa đất số 382, tờ bản đồ số 27 hiện do bà đang đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1990, mẹ ông chết không để lại di chúc nên ông yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản mẹ ông để lại là hai thửa đất nêu trên, ông yêu cầu nhận hiện vật. Trường hợp không chia được bằng hiện vật thì ông yêu cầu được nhận giá trị bằng tiền.
Riêng đối với số vàng 11 chỉ vàng 24K chi phí chữa bệnh cho mẹ ông khi còn sống. Trường hợp chia thừa kế quyền sử dụng đất nêu trên, ông sẽ cùng ông Bạch Thanh H và ông Nguyễn Thanh P tự nguyện liên đới thanh toán lại cho bà Bạch Thanh T toàn bộ 11 chỉ vàng 24K nêu trên.
Ngoài ra, trên thửa đất số 382 còn có một cây xoài, một cây khế, một vài bụi tre và các cây tạp khác không có giá trị lớn nên không yêu cầu chia. Nếu sau này các cây cối trên nằm trên phần đất của ai thì người đó sử dụng. Ông không tranh chấp đối với các cây cối này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh P trình bày: ông là con của bà Võ Thị Ngọc N1, bà N1 chỉ có ông là hàng thừa thừa kế thứ nhất của bà N1, ngoài ra không còn ai. Ông thống nhất với lời trình bày của ông Bạch Thanh S (T1) và yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản bà ngoại ông chết để lại là hai thửa đất nêu trên theo hướng cho ông nhận thừa kế thế vị phần của mẹ ông, ông yêu cầu được nhận bằng hiện vật (đất). Trường hợp, không chia được bằng hiện vật thì ông yêu cầu được nhận giá trị bằng tiền.
Riêng đối với số vàng 11 chỉ vàng 24K chi phí chữa bệnh cho mẹ ông khi còn sống. Trường hợp chia thừa kế quyền sử dụng đất nêu trên, ông sẽ cùng ông Bạch Thanh H và ông Bạch Thanh S (T1) sẽ tự nguyện liên đới thanh toán lại cho bà Bạch Thanh T toàn bộ 11 chỉ vàng 24K nêu trên.
Ngoài ra, trên thửa đất số 382 còn có một cây xoài, một cây khế, một vài bụi tre và các cây tạp khác không có giá trị lớn nên không yêu cầu chia. Nếu sau này các cây cối trên nằm trên phần đất của ai thì người đó sử dụng. Ông không tranh chấp đối với các cây cối này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N trình bày: Ông là chồng bà Bạch Thanh T. Ông không có ý kiến hay yêu cầu trong vụ kiện này vì tài sản đang tranh chấp là của bên vợ của ông.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh P1 trình bày: ông hiện đang thuê thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22 của ông Bạch Thanh S (H1). Hiện tại, ông Bạch Thanh H và ông Bạch Thanh S (H1) đang có tranh chấp chia thừa kế liên quan đến thửa đất số 481, tờ bản đố số 22, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ kiện. Nếu sau này có chia thừa kế đối với thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22 nêu trên, ông và ông Bạch Thanh S (H1) sẽ tự thỏa thuận giải quyết hợp đồng thuê giữa hai bên. Ngoài ra, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ kiện.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ có đơn xin vắng mặt, tại Công văn số 9189/UBND- NC ngày 05/8/2021 trình bày: Ngày 11/3/2005, UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Bạch Thanh T tại thửa đất số 382, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc xã Đ được thực hiện theo trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, đã được UBND xã Đ xác nhận đủ điều kiện cấp giấy. Hiện nay, thửa đất này do bà Bạch Thanh T đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 11/3/2005, UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bạch Thanh S tại thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22, đất tọa lạc xã Đ được thực hiện theo trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, đã được UBND xã Đ xác nhận đủ điều kiện cấp giấy. Hiện nay, thửa đất này do bà Bạch Thanh S đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 28-6-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, quyết định:
Áp dụng Điều 650, 651, 652 và 660 Bộ luật dân sự năm 2015 và Án lệ số 05/2016/AL của Tòa án nhân dân tối cao. Tuyên xử:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H 01305 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Bạch Thanh T ngày 11-3-2005 đối với thửa đất số 382, diện tích 1.482m², tờ bản đố số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế và xin hưởng di sản thừa kế quyền sử dụng đất của các đương sự: Ông Bạch Thanh H, ông Bạch Thanh S (T1) và ông Nguyễn Thanh P.
- Thửa đất số 481, tờ bản đồ số 22, diện tích đo đạc thực tế 6.071,9m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Thửa đất số 382, tờ bản đồ số 27, diện tích đo đạc thực tế 1.821,5m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01304 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Bạch Thanh S ngày 11-3-2005 đối với thửa đất số 481, diện tích 6.128m², tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Xác định di sản của bà Võ Thị D, gồm:
Di sản thừa kế nêu trên của bà D được chia theo theo pháp luật cho các đương sự: Bà Bạch Thanh T, ông Bạch Thanh S(T1), ông Bạch Thanh S(H1), ông Bạch Thanh H và ông Nguyễn Thanh P thừa kế thế vị mẹ là bà Võ Thị Ngọc N1, cụ thể các đương sự được nhận như sau:
- + Bà Bạch Thanh T được hưởng phần di sản gồm: 1000m² (thuộc một phần thửa 481 (Vị trí E) và 607,2m² thuộc một phần thửa 382 (vị trí A), tổng trị giá: (1.000m² x 819.000 đồng/m²) + (607,2m² x 3.556.000 đồng) = 819.000.000 đồng + 2.159.203.200 đồng = 2.978.203.200 đồng;
- + Ông Bạch Thanh S (H1) được hưởng phần di sản gồm: 1000m² (thuộc một phần thửa 481 (vị trí D) và 607,1m² thuộc một phần thửa 382 (vị trí C), tổng trị giá: (1.000m2 x 819.000 đồng/m²) + (607,1m² x 3.556.000 đồng) = 819.000.000 đồng + 2.158. 847.600 đồng = 2.977.847.600 đồng;
- + Ông Bạch Thanh H được hưởng phần di sản gồm: 1000m² (thuộc một phần thửa 481 (vị trí C) và 607,2m² thuộc một phần thửa 382 (vị trí B), tổng trị giá: (1.000m² x 819.000 đồng/m²) + (607,2m² x 3.556.000 đồng) = 819.000.000 đồng + 2.159.203.200 đồng = 2.978.203.200 đồng;
- + Ông Bạch Thanh S (T1) được hưởng phần di sản gồm: 1.535.9 m² (thuộc một phần thửa 481 (vị trí B) tổng trị giá: 1.535.9m² x 819.000 đồng/m² = 1.257.902.100 đồng;
- + Ông Nguyễn Thanh P được hưởng thừa kế thế vị phần di sản gồm: 1.535.9 m² (thuộc một phần thửa 481 (vị trí A) tổng trị giá: 1.536m² x 819.000 đồng/m² = 1.257.984.000 đồng;
Đồng thời, bà Bạch Thanh T, ông Bạch Thanh S(H1) và Bạch Thanh H phải thanh toán phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Bạch Thanh S (T1) và ông Nguyễn Thanh P, cụ thể:
- + Bà Bạch Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Bạch Thanh S (T1) giá trị phần chênh lệch là: 494.823.200 đồng;
- + Ông Bạch Thanh H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Thanh P giá trị phần chênh lệch là: 494.823.200 đồng;
- + Ông Bạch Thanh S (H1) có nghĩa vụ thanh toán cho ông Bạch Thanh S (T1) giá trị phần chênh lệch là: 247.274.700 đồng và thanh toán cho ông Nguyễn Thanh P giá trị phần chênh lệch là: 247.192.800 đồng.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bạch Thanh H, Bạch Thanh S (T1) và ông Nguyễn Thanh P. Ông Bạch Thanh H, Bạch Thanh S (T1) và ông Nguyễn Thanh P có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Bạch Thanh T 11 (mười một) chỉ vàng 24K. Trả bằng hiện vật hoặc bằng tiền tương đương theo thời giá tại thời điểm thi hành án.
- Phần đất vị trí A diện tích 1536m², vị trí B diện tích là 1535,9m², vị trí C, D, E cùng diện tích 1.000m² theo Mảnh trích đo phân khu của Công ty TNHH Đ1 đo vẽ dựa trên Mảnh trích đo địa chính số 170-2021 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/02/2021 (kèm theo bản án).
Phần đất vị trí A diện tích 607,2m², vị trí B diện tích là 607,2m², vị trí C diện tích 607,1m² theo Mảnh trích đo phân khu của Công ty TNHH Đ1 đo vẽ dựa trên Mảnh trích đo địa chính số 171-2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/02/2021 (kèm theo bản án).
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định giá, xem xét thẩm định tại chỗ 65.475.000 đồng, mỗi đương sự phải chịu 1/5, ông H đã nộp tạm ứng. Bà T, ông S (T1), ông S (H1) và ông P mỗi người phải nộp 13.095.000 đồng để hoàn trả cho ông H.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 03-7-2023, ông Bạch Thanh S (HiếuH, bà Bạch Thanh T kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Bạch Thanh H và người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Bạch Thanh S (T1) và ông Nguyễn Thanh P đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn bà Bạch Thanh T, người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Bạch Thanh S (H1) và Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà T cho rằng di sản chia thừa kế của bà Võ Thị D (chết 1990) và ông Bạch Thanh H4 (chết 2008). Vợ chồng bà D và ông H4 có 04 con, gồm: Bạch Thanh T, Bạch Thanh H, Bạch Thanh S (H1) và Bạch Thanh S (T1). Bà D có 01 con riêng là bà Võ Thị Ngọc N1 và bà N1 có 01 con tên Nguyễn Thanh P. Ngoài ra, ông H4 có vợ 2 tên Nguyễn Thị Cẩm A và 02 con: Bạch Thanh T2, Bạch Thanh L (tên gọi khác: Nguyễn Thanh H3). Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh, làm rõ sự thật vụ án nên không đưa vợ, con riêng của ông H4 tham gia vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thanh H3.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và kết luận: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Bạch Thanh S (H1) bà Bạch Thanh B, hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
[1] Lời khai ban đầu của nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận 02 thửa đất số 481 (6.071,9m²) và số 382 (1.821,5m²) tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An là di sản bà D được cụ Nguyễn Thị T3 (mẹ ruột bà D) cho. Bà D chết năm 1990 và ông H4 chết năm 2008 không để lại di chúc, ông, bà có 04 con, gồm: Bạch Thanh T, Bạch Thanh H, Bạch Thanh S (H1) và Bạch Thanh S (T1). Bà D có con riêng là bà Võ Thị Ngọc N1 (chết 1972), bà N1 có 01 con tên Nguyễn Thanh P. Nguyên đơn, bị đơn còn cho rằng bà D, ông H4 không còn người con riêng hay con nuôi nào khác. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Bạch Thanh T lại cung cấp chứng cứ mới, đó là “Tờ khai gia - đình” ngày 05-8-1971, trong đó gồm có: Bạch Thanh H4, Nguyễn Thị Cẩm A, Bạch Thanh T2 và Bạch Thanh L (tên gọi khác: Nguyễn Thanh H3). Điều này thể hiện lời khai nêu trên mâu thuẫn với chứng cứ mới. Như vậy, ông H4 có vợ hai và thêm 02 người con riêng. Nay bà Nguyễn Thanh H3 (Bạch Thanh L) yêu cầu được tham gia tố tụng với tư cách là con ruột - thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Bạch Thanh H4. Mặt khác, ông Bạch Thanh S (H1), bà Bạch Thanh T thay đổi lời khai, thừa nhận bà Nguyễn Thanh H3 là con cùng cha khác mẹ với bà T, ông S (H1), ông S (T1) và ông H. Ngoài ra, cụ Nguyễn Thị T3 chết 1991 là
chết sau bà D (chết 1990) nên bà D không được hưởng di sản thừa kế của cụ T3 theo quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng tòa án cấp sơ thẩm không đề cập là thiếu sót.
[2] Theo lời trình bày của Luật sư Nguyễn Minh T4 (người đại diện theo ủy quyền của bà T) khẳng định ông Bạch Thanh H4 có con riêng là Bạch Thanh T2, Bạch Thanh L, vì chính ông đem bản gốc “Tờ khai gia đình” đến nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm nhưng ông đã làm thất lạc và “hứa” khi nào tìm thấy sẽ giao nộp cho cơ quan Tòa án. Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ đối với 02 thửa đất số 481 với 6.071,9m² và thửa đất số 382, diện tích 1.821,5m² thuộc quyền sở hữu của cụ T3 cho riêng bà D hay tài sản chung của vợ chồng bà D, ông H4 cũng là thiếu cơ sở pháp luật.
[3] Bị đơn bà Bạch Thanh T, ông Bạch Thanh S (H1) còn đề nghị được giám định AND giữa anh chị em ruột của ông, bà với bà Nguyễn Thanh H3 nhằm xác định có quan hệ huyết thống với ông H4 hay không.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Đồng thời, phát sinh tình tiết mới gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận kháng cáo của bà Bạch Thanh T, ông Bạch Thanh S (H1). Hủy bản án sơ thẩm để thu thập chứng cứ, xét xử lại theo quy định pháp luật.
[4] Về án phí phúc thẩm:
Ông Bạch Thanh S (H1), bà Bạch Thanh T được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, điểm c khoản 1 Điều 24, khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH :
- Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Bạch Thanh T, ông Bạch Thanh S (H1).
- Về án phí phúc thẩm:
- Án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 28-6-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Ông Bạch Thanh S (H1), bà Bạch Thanh T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông Bạch Thanh S (H1), bà Bạch Thanh T mỗi người 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm nộp án phí theo Biên lai lần lượt số 0003763 và số 0003764 cùng ngày 04-7-2023 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Long An.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (14 - 6 - 2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thúy Cầu |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
|
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Cao Văn T5 – C |
Lê Thúy C1 |
Bản án số 418/2024/DS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt
- Số bản án: 418/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỷ án sơ thẩm
