|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 414/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/9/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hải;
- Bà Nguyễn Thị Xuân Hương;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 341/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 về việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm: 1986; HKTT: Khu B, thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
Bị đơn: Anh Đỗ Văn L, sinh năm 1984; HKTT: Khu B, thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn xin ly hôn (không đề ngày) và lời khai trong toàn bộ quá trình giải quyết, lời khai tại phiên toà, nguyên đơn – chị Trần Thị N trình bày:
Chị và anh Đỗ Văn L lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 26/7/2011 tại UBND thị trấn T, huyện H, Hà Nội trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Đây là lần kết hôn đầu tiên của anh chị.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế, cách cư xử với bên nội bên ngoại, cách nuôi dạy con, chi tiêu trong gia đình, công việc gia đình, anh L thường xuyên nghi ngờ chị ngoại tình, ghen tuông, kiểm soát điện thoại, sinh hoạt của chị. Trong cuộc sống không có sự chia sẻ, vợ chồng thường xuyên chửi bới nhau. Mâu thuẫn nhiều bắt đầu từ năm 2016, chị đã 04 lần bỏ nhà đi, cụ thể là năm 2019, 2021, 2022, tháng 6/2024. Mỗi lần bỏ đi khoảng 7-8 tháng, sau đó anh L nài nỉ thì chị quay về. Cuộc sống vợ chồng vô cùng ngột ngạt, không có sự tin tưởng, sẻ chia, chị không tìm được tiếng nói chung, không tìm được cách khắc phục nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tháng 6/2024 anh L nghi ngờ chị có quan hệ với người khác nên đã đánh chị và chị đã bỏ nhà đi cho đến nay. Tháng 7/2024 chị đã nộp đơn xin ly hôn, anh L không đồng ý, Toà án hoà giải nên chị rút đơn về để thuyết phục anh L. Sau khi rút đơn về vợ chồng cũng không nói chuyện được với nhau, chị không muốn về chung sống với anh L.
Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn sâu sắc, không có khả năng đoàn tụ, chị đã suy nghĩ rất kỹ, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
Về con chung, chị và và anh L 03 con chung là Đỗ Tuấn A, sinh ngày 06/12/2011 Đỗ Như Q, sinh ngày 17/7/2013, Đỗ Hoài A1, sinh ngày 07/9/2018. 03 con chung phát triển bình thường. Cháu Tuấn A bị bệnh tim bẩm sinh. Hiện anh L đang trực tiếp nuôi hai cháu Tuấn A, Q, còn chị đang trực tiếp nuôi cháu Hoài A1. Nếu trường hợp được ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả ba con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang làm nghề tự do (tạp vụ), thu nhập khoảng 10 triệu đồng/tháng. Vì từ khi con còn nhỏ đến nay chị đều là người trực tiếp chăm sóc con chung, anh L không bao giờ chăm con.
Về tài sản chung, nhà ở chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về công nợ, vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn – anh Đỗ Văn L trình bày:
Về thời gian và điều kiện kết hôn như chị N trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của bố mẹ anh ở tại khu B Thị trấn T. Quá trình chung sống chị N đã 04 lần bỏ nhà đi, đi khoảng 6-7 tháng anh khuyên bảo thì lại về, tháng 6/2024 chị N bỏ đi từ đó cho đến nay. Tháng 7/2024 chị N làm đơn xin ly hôn, Toà án khuyên giải nên chị N rút đơn và Toà án đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên sau đó chị N vẫn bỏ đi, không về, vợ chồng cũng không gặp nhau để nói chuyện, chị N không đồng ý gặp anh, chặn điện thoại của anh. Hiện chị N ở đâu anh cũng không biết. Anh cũng không biết vì sao chị N bỏ đi. Anh nhận thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì, vợ chồng vẫn nói chuyện với nhau bình thường. Vợ chồng xích mích chỉ là những sinh hoạt trong gia đình, chị N có to tiếng với anh thì anh cũng nhịn, không nói gì.
Hàng ngày mỗi khi chị N bức xức chuyện gia đình thì lại chửi bới anh, tuy nhiên anh toàn nhịn, không nói lại để cho nhà cửa êm ấm. Anh xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì to tát, anh không đồng ý ly hôn, đề nghị Toà án khuyên giải chị N rút đơn về vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái. Hiện các cháu đang tuổi dậy thì, cần sự quan tâm chăm sóc của bố mẹ.
Về con chung, như chị N trình bày là đúng. Hiện anh đang trực tiếp nuôi hai cháu Tuấn A, Q, còn chị N bỏ đi thì mang theo cháu Hoài A1. Nếu trường hợp ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 03 con chung và cấp dưỡng nuôi con bao nhiêu thì tuỳ chị N, anh không yêu cầu. Hiện anh đang làm nghề tự do (làm điện nước), thu nhập khoảng 9-10 triệu đồng/tháng. Về tài sản chung, không yêu cầu. Về công nợ, không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, lấy lời khai, công khai chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát đúng quy định, đảm bảo thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật.
- + Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N. Về con chung, đề nghị giao con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoài A1, giao cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tuấn A, cháu Q; anh chị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nhà ở chung, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về công nợ, anh chị xác nhận không nợ ai và không cho ai vay nợ nên không xét. Về án phí, chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Tại Đơn xin ly hôn và tài liệu kèm theo thể hiện bị đơn có nơi cư trú tại khu B thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội, vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân gia đình trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Đỗ Văn L lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 26/7/2011 tại UBND thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Anh chị thống nhất xác định quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nên chị N nhiều lần bỏ nhà đi, đi khoảng 6-7 tháng, anh L khuyên thì lại quay về. Tháng 6/2024 chị N lại bỏ nhà đi, không liên lạc với anh L và chị nộp đơn xin ly hôn. Anh L không đồng ý ly hôn vì xác định mâu thuẫn vợ chồng không to tát, không biết vì sao chị N bỏ đi, mọi việc trong gia đình vẫn bình thường.
Đại diện chính quyền địa phương nơi anh chị chung sống cung cấp: do mâu thuẫn của anh chị không thể hiện ra bên ngoài nên địa phương không nắm được. Các cháu Đỗ Tuấn A, Đỗ Như Q, Đỗ Hoài A1 là con chung của anh chị, không thuộc diện trợ cấp của địa phương.
Xét, chị N, anh L đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, chị N có to tiếng với anh L và anh L nhịn không đôi co để vợ chồng không căng thẳng. Tuy nhiên, việc anh L lựa chọn phương án đó để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng là không phù hợp. Vợ chồng không có sự chia sẻ, đồng cảm và tin tưởng nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Anh L không hiểu nguyên nhân của những mâu thuẫn vợ chồng, anh chị không tìm được tiếng nói chung, không tìm được cách khắc phục nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tháng 7/2024 chị N nộp đơn xin ly hôn, do Toà án hoà giải nên chị rút đơn về nhưng sau đó tình trạng hôn nhân vẫn không thay đổi. Do vậy, tháng 8 chị lại làm đơn xin ly hôn.
Điều đó thể hiện mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận.
2.2. Về con chung: Chị N và anh L có 03 con chung là Đỗ Tuấn A, sinh ngày 06/12/2011, Đỗ Như Q, sinh ngày 17/7/2013, Đỗ Hoài A1, sinh ngày 07/9/2018. Ba con chung phát triển bình thường. Chị N và anh L đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba con chung. Chị N, anh L không yêu cầu đóng góp nuôi con.
Chị N, anh L hiện đang làm nghề tự do, chị N thu nhập trung bình khoảng 10.000.000 đồng/tháng, anh L thu nhập khoảng 13.000.000 – 14.000.000 đồng/tháng (gồm thu nhập do làm nghề tự do và tiền cho thuê nhà). Đại diện chính quyền địa phương cung cấp, cháu Tuấn A, Q, Hoài A1 là con chung của anh chị, không thuộc diện trợ cấp xã hội tại địa phương.
Xét, việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi dưỡng khi ly hôn cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Chị N và anh L đều đủ điều kiện nuôi con, con chung phát triển bình thường. Cháu Tuấn A tuy lớn nhất nhưng bị bệnh tim nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Do vậy, giao cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tuấn A, giao cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q và Hoài A1 là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chị N, anh L tự nguyện không yêu cầu đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Sự tự nguyện của anh chị phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Chị N, anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
2.3. Về tài sản chung và nhà ở chung: Chị N, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
2.4. Về công nợ: Chị N, anh L xác nhận vợ chồng không nợ chung ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Ngoài ra, chị N, anh L không yêu cầu giải quyết vấn đề nào khác nên không xét.
2.5. Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Chị N, anh L có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trần Thị N đối với anh Đỗ Văn L. Chị N được ly hôn anh L.
- Về con chung: Chị N, anh L xác nhận có ba con chung là Đỗ Tuấn A, sinh ngày 06/12/2011; Đỗ Như Q, sinh ngày 17/7/2013; Đỗ Hoài A1, sinh ngày 07/9/2018.
Giao cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Tuấn A, giao cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q và cháu Hoài A1, kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của chị N, anh L, kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Chị N, anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nhà ở chung: Chị N, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về công nợ: Chị N, anh L xác nhận vợ chồng không nợ chung ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số BLTU/23/0005932 ngày 08/8/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện H, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Trần Thị N, anh Đỗ Văn L. Chị N, anh L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Lan Anh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 414/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 414/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
