Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 417/2024/HNGĐ-ST

Ngày 05-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Sức

Ông Võ Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Ông Lưu Tiến Dũng– Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 330/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mộng T, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng A, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

(bà T có đơn xin vắng mặt, ông A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trình bày:

Cả hai tự tìm hiểu quen biết nhau được cha mẹ chấp thuận tổ chức lễ cưới năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã P, huyện P, tỉnh An Giang, sống chung gia đình cha mẹ vợ, quá trình chung sống không hạnh phúc, ông Hùng A thường xuyên ăn nhậu, tụ tập bạn bè ăn chơi, nghiện ma tuý không lo cho gia đình, trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2021 ông Hùng A bị Toà án xử tội danh nghiện ma tuý và đi chấp hành án cho đến nay, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hùng A.

+ Vợ chồng: có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo A1, sinh ngày 30/8/2020, bà T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông Hùng A cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ phải thu phải trả: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Hùng A được Tòa án làm thủ tục uỷ thác thu thập chứng cứ gởi đến nơi ông Nguyễn Hùng A đang chấp hành án.

Ông Nguyễn Hùng A có ý kiến: Ông và bà Huỳnh Thị Mộng T do người làm mai mối, có tổ chức lễ cưới năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Nay đồng ý ly hôn với bà Mộng T, đồng ý giao con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo A1, sinh ngày 30/8/2020 cho bà Mộng T tiếp tục nuôi dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không có. Ngoài ra ông không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn với ông Hùng A, con chung tiếp tục giao bà T nuôi dưỡng, ông Hùng A không cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật, bị đơn đã có văn bản gởi ý kiến và yêu cầu vắng mặt do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 31/01/2005 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P cấp là hôn nhân hợp pháp. Bà T cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do rạn nứt tình cảm, đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Quá trình tố tụng, ông Hùng A cũng thể hiện ý kiến bằng văn bản đồng ý ly hôn. Xét thấy, hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T1 yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Các bên thống nhất thuận tình ly hôn trước khi Toà án đưa vụ án ra xét xử nên ông bà phải chịu án phí hôn nhân theo quy định.

[2.2] Về con chung: không có

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: bà T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: các bên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà T tự nguyện nộp thay phần án phí của ông Hùng A.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9; Điều 51, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 273, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mộng T

1. Về hôn nhân gia đình: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Huỳnh Thị Mộng T và ông Nguyễn Hùng A

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo A1, sinh ngày 30/8/2020 cho bà Huỳnh Thị Mộng T được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến thành niên hoặc tự lập được. Ông Nguyễn Hùng A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Hùng A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định

3. Về tài sản chung: Không

4. Về nợ: Ghi nhận bà T trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

5. Về án phí: bà T, ông A phải chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà T tự nguyện nộp thay được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006649 ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. H lại cho bà T số tiền 150.000đồng. Ông Nguyễn Hùng A không phải chịu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân
  • - UBND xã Phú Xuân, huyện Phú Tân
  • - TAND tỉnh An Giang
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Lâm Bảo Ngọc

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 417/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 417/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Tuyền xin ly hôn anh An
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger