|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 417/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04/3/2025 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thanh Giàu
- Ông Phạm Văn Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc H – Kiểm sát viên
Trong ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số : 2076/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 740/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 525/2025/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thùy D, sinh năm: 1997 (có mặt)
Địa chỉ: số C đường A, khu phố T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bị đơn: Ông Đặng Hoàng T, sinh năm: 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: số G đường B, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thùy D trình bày: bà D và ông Đặng Hoàng T tự nguyện sống chung và đăng ký kết hôn ngày 23 tháng 6 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường nhưng thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng nhiều mặt, cả hai không có sự thông cảm, chia sẻ với nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm trở nên lạnh nhạt nên bà D về nhà mẹ ruột sinh sống. Nay xác định không còn khả năng hàn gắn nên bà D yêu cầu được ly hôn để cả hai ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: bà D khai hai vợ chồng có 01 con chung tên Đặng Thị Thanh T1, sinh ngày 12/12/2017 hiện đang do bà nuôi dưỡng. Bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung sau ly hôn.
Về tài sản chung, nợ chung: bà D tự khai không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập cho ông Đặng Hoàng T đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Bà Nguyễn Thùy D có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Đặng Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thùy D được ly hôn với ông Đặng Hoàng T; Về con chung: trẻ T1 hiện đang do bà D nuôi dưỡng và trẻ có nguyện vọng được ở với mẹ. Để bảo đảm điều kiện sống hiện tại cho trẻ T1 nên giao trẻ cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Ghi nhận bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có; Về án phí: bà D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thùy D nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Hoàng T, ông T có nơi cư trú tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông đặng Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[3] Xét yêu cầu của đương sự:
Bà Nguyễn Thùy D và ông Đặng Hoàng T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 23 tháng 6 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2017 nên hôn nhân giữa bà D và ông T là hợp pháp.
Theo lời khai của bà D thì vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về nhiều mặt trong quá trình sống chung, không có sự thông cảm, chia sẻ với nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm trở nên lạnh nhạt. Vợ chồng tự ý không sống chung với nhau thời gian dài nhưng không có khả năng hàn gắn nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông T.
Ông T không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định. Điều đó chứng tỏ ông T bỏ mặc, không còn quan tâm đến hôn nhân giữa ông và bà D. Xét thấy lời khai của bà D là phù hợp với thực tế nêu trên, mâu thuẫn giữa bà D và ông T đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thùy D đối với ông Đặng Hoàng T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Theo tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày thì bà D và ông T có 01 người con chung Đặng Thị Thanh T1, sinh ngày 12/12/2017 hiện đang do bà nuôi dưỡng. Tại bản trình bày nguyện vọng của trẻ T1 thực hiện tại Tòa án cũng thể hiện nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Do đó, để đảm bảo duy trì sự phát triển ổn định về mọi mặt của trẻ, căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét thấy yêu cầu của bà D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và nguyện vọng của trẻ nên có căn cứ chấp nhận. Ghi nhận bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: bà D tự khai không có nên Tòa án không xem xét.
[4] Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thùy D phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thùy D được ly hôn với ông Đặng Hoàng T.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2017 ngày 23 tháng 6 năm 2017 do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thùy D và ông Đặng Hoàng T không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Giao bà Nguyễn Thùy D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đặng Thị Thanh T1, sinh ngày 12/12/2017. Ghi nhận bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức tiền cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc của người không trực tiếp nuôi con
- - Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự tự khai không có.
- Về án phí: bà Nguyễn Thùy D1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng số: 0028045 ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D đã nộp đủ án phí.
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Cẩm Hiền |
4
Bản án số 417/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 417/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn đơn phương
