|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 4160/2024/DS-ST Ngày: 04/9/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Vinh
- Bà Đặng Thị Thanh Tâm;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1208/2022/TLST- DS ngày 08 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5364/2024/QĐXXST- DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 6483/2024/QĐST- DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (gọi tắt là Ngân hàng V1);
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, tòa nhà S- A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện pháp luật: Ông Hàn Ngọc V, sinh năm: 1965;
Chức danh: Tổng Giám đốc;
Đại diện ủy quyền:
- Bà Trần Thị Thu H, sinh năm: 1976; (theo Giấy ủy quyền số 27869.20 ngày 04/01/2021);
- Ông Phạm Ngọc T; Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q;
- Ông Nông Văn T1; Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q;
- Ông Nguyễn Hoàng T2; Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q;
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1988; Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q;
Địa chỉ nhận văn bản: Tầng F, tòa nhà P U, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
(theo Giấy ủy quyền số 092386.24 ngày 10/5/2024);
(ông Nguyễn Văn Đ có mặt tại phiên tòa);
2. Cùng Bị đơn:
- Anh Lý Hòa T3, sinh năm: 1990;
Địa chỉ: E đường số A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H truy nã);
- Chị Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1990;
Địa chỉ: số I đường H, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 18/11/2022; Bản tự khai ngày 04/7/2024 và trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Văn Đ là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng V1 trình bày như sau:
Ngân hàng V1- Chi nhánh G- Phòng G1 ký với ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D Hợp đồng tín dụng số 0280/HĐTD.VIB.624.17 ngày 31/10/2017 với nội dung: số tiền giải ngân: 431.000.000 đồng; mục đích giải ngân hàng: thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, số loại: CRUZE;
Thời hạn vay: 84 tháng, từ ngày 02/11/2017 đến ngày 01/11/2024; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 7,99%/năm. Mức lãi suất quy đổi từ cơ sở 01 năm có 360 ngày sang cơ sở một năm có 365 ngày là: 8,10%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ áp dụng trong 12 tháng đầu tiên từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo quy định của Ngân hàng V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4,09%/năm. Nếu pháp luật có quy định, mức lãi suất quy đổi từ cơ sở một năm có 360 ngày sang cơ sở một năm có 365 ngày sẽ được áp dụng theo công thức sau: Lãi suất quy đổi bằng (=) mức lãi suất cho vay với một năm có 360 ngày chia (/) 360 nhân (*) 365.
- Hoàn trả khoản vay gốc: hàng tháng vào ngày 25, mỗi tháng trả 5.130.952 đồng, tháng cuối trả 5.130.984 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 25/11/2017;
- Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 25; trả phí: theo quy định của Ngân hàng V1 từng thời kỳ,
- Lãi quá hạn bằng 150 % lãi trong hạn. Ngân hàng V1 đã giải ngân cho cho ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 0280/KUNN.VIB 624.17 ngày 01/11/2017 với số tiền 431.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tạm tính đến ngày 26/6/2019, ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Ngọc D đã thanh toán cho VIB số tiền 172.407.123 đồng; trong đó: gốc 107.749.992 đồng, lãi là 64.657.131 đồng;
Tạm tính đến ngày 04/9/2024, ông T3 và bà D còn nợ Ngân hàng V1 số tiền 645.339.540 đồng, trong đó: nợ gốc là 323.250.008 đồng; lãi trong hạn 3.520.723 đồng và nợ lãi là 318.568.809 đồng;
Đối với tài sản bảo đảm bảo xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, số loại: Cruze, màu sơn đỏ, biểm kiểm soát 51G-005.17 đứng tên ông Lý Hòa T3 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 317744 do Công an Thành phố H cấp ngày 30/10/2017, đang thế chấp tại Ngân hàng V1 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 0280/HĐTC.VIB.624.17 ngày 31/10/2017 thì Ngân hàng V1 không yêu cầu Tòa án xử lý phát mại tài sản bảo đảm trên. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tại Đơn khởi kiện;
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- Buộc ông/bà Lý Hòa T3 và Nguyễn Thị Ngọc D trả ngay cho Ngân hàng V1 số tiền tạm tính đến ngày 04/9/2024, ông T3 và bà D còn nợ ngân hàng V1 số tiền 645.339.540 đồng, trong đó: nợ gốc là 323.250.008 đồng; lãi trong hạn 3.520.723 đồng và nợ lãi là 318.568.809 đồng;
- Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 05/9/2024 cho đến khi ông/bà Lý Hòa T3 và Nguyễn Thị Ngọc D thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký;
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác;
Bị đơn là ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Văn Đ là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã nêu trong Đơn khởi kiện, B tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
- Bị đơn là ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa nhưng ông T3, bà D vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định của pháp luật; tuy nhiên, còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Đơn khởi kiện của nguyên đơn, có cơ sở xác định đây là Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản. Do bị đơn ông Lý Hòa T3 có địa chỉ cư trú số E đường số A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D có địa chỉ cư trú số I đường H, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự;
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Ngân hàng V1 yêu cầu đòi nợ trước hạn và yêu cầu bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D thanh toán số tiền vốn vay là 323.250.008 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng cho vay ô tô số: 0280/HDTD.VIB.624.17 ngày 31/10/2017 (đính kèm là Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng) và Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 0280/KUNN.VIB.624.17 cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định Ngân hàng V1 đã cho bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D vay số tiền 431.000.000 đồng với mục đích thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, số loại: CRUZE.
Sau khi nhận nợ để mua xe ô tô đến nay, bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 172.407.123 đồng (trong đó nợ gốc là 107.749.992 đồng và nợ lãi là 64.657.131 đồng). Theo quy định tại khoản 1.4 Điều 1 của Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng, bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần và tạo điều kiện cho ông T3 và bà D trả nợ. Việc vi phạm của ông T3 và bà D trong một thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Hiện nay, Ngân hàng không liên hệ được với ông T3 và bà D và không kiểm soát được chiếc xe ô tô là tài sản thế chấp.
Căn cứ và kết quả xác minh ngày 21/4/2023 của Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông Lý Hòa T3 có HKTT tại địa chỉ: E đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không sinh sống tại địa chỉ trên, hiện Lý Hòa T3 là đối tượng truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H; bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D hiện nay đang cư trú tại địa chỉ số I đường H, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bà D vắng mặt không có lý do.
Căn cứ vào Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 228/2019/QĐ ST-HNGĐ ngày 11/3/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh thì khoản vay của ông T3 và bà D tại Hợp đồng tín dụng cho vay ô tô số: 0280/HDTD.VIB.624.17 ngày 31/10/2017 (đính kèm là Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng) và Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 0280/KUNN.VIB.624.17 là khoản vay trong thời kỳ hôn nhân của ông T3 và bà D. Do vậy, Ngân hàng V1 yêu cầu đòi nợ trước hạn đối với bị đơn ông T3 và bà D thanh toán ngay nợ gốc số tiền 323.250.008 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1.4 Điều 1 của Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng về thu hồi trước hạn các khoản phải trả.
[3.2] Ngân hàng V1 yêu cầu bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D thanh toán nợ lãi tạm tính đến ngày 04/9/2024, cụ thể là lãi trong hạn 3.520.723 đồng và nợ lãi quá hạn là 318.568.809 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
Sau khi nhận nợ vay đến nay, bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D chỉ thanh toán cho Ngân hàng V1 với số tiền lãi 64.657.131 đồng. Các bên đã thỏa thuận về việc chuyển nợ quá hạn, lãi suất quá hạn tại điểm g khoản 1.4 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng cho vay ô tô số: 0280/HDTD.VIB.624.17 ngày 31/10/2017 (đính kèm là Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng), bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D không thanh toán tiền nợ gốc, lãi suất theo thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng. Xem xét thời gian tính lãi, mức lãi suất mà ngân hàng đã áp dụng là phù hợp với thỏa thuận của các bên được quy định tại Hợp đồng tín dụng cho vay ô tô số: 0280/HDTD.VIB.624.17 ngày 31/10/2017 (đính kèm là Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng); Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 0280/KUNN.VIB.624.17 và phù hợp với quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Hội đồng xét xử buộc ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D liên đới thanh toán nợ lãi trong hạn số tiền 3.520.723 đồng và nợ lãi quá hạn số tiền 318.568.809 đồng cho Ngân hàng V1;
[3.3] Ngân hàng V1 không yêu cầu Hội đồng xét xử phát mãi tài sản thế chấp, yêu cầu tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 05/9/2024 cho đến khi ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký;
Căn cứ vào Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 0280/HĐTC.VIB.624.27 ngày 31/10/2017 giữa Ngân hàng V1- Chi nhánh G- Phòng G1 với tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, số loại: CRUZE, số khung: 696EHH948169; số máy: 6D3171850001, biển kiểm soát 51G- 005.17; chủ tài sản là ông Lý Hòa T3. Căn cứ vào Đơn khởi kiện ngày 18/11/2022, Biên bản hòa giải ngày 04/7/2024 và Bản tự khai ngày 04/7/2024, nguyên đơn Ngân hàng V1 không yêu cầu Tòa án phát mãi đối với tài sản thế chấp của bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D là chiếc xe ô tô nêu trên;
Căn cứ tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự:
“1. Đương sự có quyền quyết định khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”.
Nguyên đơn không yêu cầu khởi kiện và tại phiên tòa đại diện ủy quyền cho nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu Hội đồng xét xử phát mãi đối với tài sản thế chấp ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, số loại: CRUZE, biển kiểm soát 51G- 005.17; chủ tài sản là ông Lý Hòa T3 nên Hội đồng xét xử không xem xét;
Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1, buộc ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D thanh toán số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn tạm tính đến ngày 04/9/2024 tổng cộng số tiền là 645.339.540 đồng
Ngoài ra, bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D phải thanh toán cho ngân hàng tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng đã ký kể từ ngày 05/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ phù hợp với yêu cầu của Ngân hàng.
[4] Về án phí DSST: Bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu số tiền 29.813.582 đồng; hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 278, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q;
- Về án phí: Bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 29.813.582 (Hai mươi chín triệu, tám trăm mười ba ngàn, năm trăm tám mươi hai) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Buộc bị đơn ông Lý Hòa T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc D liên đới phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 645.339.540 (sáu trăm bốn mươi lăm triệu, ba trăm ba mươi chín ngàn, năm trăm bốn mươi) đồng, trong đó: nợ gốc là 323.250.008 đồng, lãi trong hạn: 3.520.723 đồng và lãi quá hạn là 318.568.809 đồng theo Hợp đồng tín dụng cho vay ô tô số: 0280/HDTD.VIB.624.17 ngày 31/10/2017 (đính kèm là Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng);
Phương thức và thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của ngân hàng cho vay.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.325.450 (Mười triệu, ba trăm hai mươi lăm ngàn, bốn trăm năm mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2022/0007220 ngày 06/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thúy Nga |
Bản án số 4160/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4160/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
