Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 416/2025/HS-ST

Ngày: 16-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Tâm

2. Bà Phan Thị Bé

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Mùi – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 và 16 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 341/2025/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 381/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Đặng Đình T; sinh ngày: 25/3/1989 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: 1166/12/1/53 Quốc lộ A, khu phố B, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Đặng Đình T1, sinh năm: 1963 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1967; gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con lớn; vợ: Ngô Thị L1, sinh năm: 1986; con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/02/2025; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm: 1980, địa chỉ: 9 Đường B, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Ngô Thị L1, sinh năm: 1986, địa chỉ: 1 Quốc lộ A, khu phố B, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Ông Bùi Tấn M, sinh năm: 1975, địa chỉ: 9 Đường B, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 05/02/2024, Đặng Đình T điều khiển xe mô tô hiệu Vision màu đỏ, biển số 37D-501.86 đến vựa D1-24 Chợ Đ (địa chỉ số A, Quốc lộ A, Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) để hỏi mua trái cây. Tại đây, T gặp chị Nguyễn Thị X (sinh năm 1980, là chủ vựa) đang đứng bán trái cây. T giới thiệu bản thân tên T2, buôn trái cây tại cây xăng chợ Đ (thực chất T cùng vợ T bán trái cây tại Khu công nghiệp V, huyện B nhưng T nói với chị X đến lấy tiền tại nơi T bán trái cây ở Chợ Đ là vì muốn tạo lòng tin cho chị X) để đặt mua của chị X 20 thùng xoài cát Hòa Lộc loại 2 (01 thùng 30kg, đơn giá 30.000 đồng/kg) và 07 rổ xoài cát Hòa Lộc loại 1 (01 rổ 27kg, đơn giá 40.000 đồng/kg) và yêu cầu mang xoài ra xếp lên xe ba gác, đồng thời kêu chị X đi theo xe ba gác về chợ Đ để lấy tiền hàng và cho chị X số điện thoại 0899.304.xxx thì chị X đồng ý. T đi ra trước chợ thuê một xe ba gác của một người đàn ông không rõ lai lịch và biển số xe). Chị X kêu chồng là anh Bùi Tấn M dùng xe đẩy chuyển xoài ra xếp lên xe ba gác do T thuê. Khi anh M đưa 20 thùng xoài cát Hòa Lộc loại 2, 04 rổ xoài cát Hòa Lộc loại 1 xếp lên xe và tiếp tục đi vào lấy thêm 03 rổ xoài cát Hòa Lộc loại 1 để xếp tiếp lên xe ba gác cho T thì lúc này T kêu tài xế xe ba gác chở hàng đi nhằm mục đích chiếm đoạt số hàng trên. Khi anh M đi ra thì không thấy T và xe ba gác đâu, anh M vào báo cho chị X, chị X gọi cho T thì T nói vòng vo và không cho biết T đang ở đâu để chị X đến lấy tiền, sau đó chị X có gọi điện tiếp nhưng không liên lạc được với T. Ngày 21/6/2024, chị X phát hiện T tại khu vực chợ đầu mối nông sản thực phẩm T nên chị X đến Công an phường T, thành phố T trình báo. Công an phường T đã đưa T về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra, Đặng Đình T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 48-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 20 thùng (mỗi thùng 30 kg) xoài cát Hòa Lộc loại 2 có giá trị 18.000.000 đồng, 04 rổ (mỗi rổ 27 kg) xoài cát Hòa Lộc loại 1 có giá trị 4.320.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản được định giá là 22.320.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

01 (một) xe mô tô hiệu Vision, biển số 37D2-501.86, số máy: JK03E6007230, số khung: RLHJK031412307397. Qua xác minh, chiếc xe trên do chị Ngô Thị L1 (vợ T) đứng tên. Chị Ngô Thị L1 không biết việc Thông sử dụng xe mô tô biển số 37D2-501.86 để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 14/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Ngô Thị L1;

- 20 (hai mươi) thùng (mỗi thùng 30 kg) xoài cát Hòa Lộc loại 2 (chưa thu hồi được);

- 04 (bốn) rổ (mỗi rổ 27 kg) xoài cát Hòa Lộc loại 1 (chưa thu hồi được);

- 01 (một) USB ghi lại hình ảnh Thông vào vựa D1- 24 chợ Đ, địa chỉ số A, QL1A, K, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (lưu theo hồ sơ).

Trách nhiệm dân sự: Ngày 22/6/2024, bị cáo Đặng Đình T đã bồi thường cho bị hại là chị Nguyễn Thị X số tiền 22.320.000 đồng. Chị X đã làm đơn bãi nại và cam kết không khiếu kiện, khiếu nại về sau.

Cáo trạng số 341/CT-VKSTPTĐ ngày 19/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đặng Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Về hình phạt: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đông con, vợ sắp sinh người con thứ 4 (có hồ sơ khám thai), bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị hại có đơn bãi nại đối với bị cáo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị áp dụng quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đặng Đình T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án; xử lý vật chứng: lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án; 20 (hai mươi) thùng (mỗi thùng 30 kg) xoài cát Hòa Lộc loại 2 và 04 (bốn) rổ (mỗi rổ 27 kg) xoài cát Hòa Lộc loại 1 chưa thu hồi được nhưng bị cáo đã bồi thường nên không cần xem xét xử lý; 01 (một) xe mô tô hiệu Vision, biển số 37D2-501.86, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý xong; trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét; về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo cơ hội được tiếp tục đi làm nuôi các con đang tuổi ăn học và chăm sóc vợ bị cáo sắp sinh người con thứ 4.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị L1 trình bày: Bà là vợ của bị cáo T, bà đứng tên đăng ký xe mô tô hiệu Vision, biển số 37D2-501.86, bà không biết bị cáo Thông sử dụng xe vào việc phạm tội, cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại xe cho bà. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 03 người con đang tuổi ăn học và hiện nay bà đang mang thai tháng thứ 7 người con thứ 4, hàng ngày bà đi phụ hồ hoặc ai thuê gì làm nấy, gia đình ở trọ, bị cáo T là lao động chính trong gia đình, hàng ngày bị cáo chạy xe lôi đi bán rau dạo để nuôi sống gia đình nên mong Hội đồng xét xử cho bị cáo T cơ hội được tiếp tục đi làm để phụ bà nuôi các con và chăm sóc bà trong thời kỳ thai sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét, quá trình tố tụng, bị cáo Đặng Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo đều thống nhất với nhau trong các Bản tự khai, Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 21/6/2024 của Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Kết luận định giá tài sản số 48-KV 3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 18/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố T; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở pháp lý xác định:

Vào lúc 14 giờ 40 phút ngày 05/02/2024, tại vựa D thuộc Chợ Đ, địa chỉ số A, Quốc lộ A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đặng Đình T đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị X 20 thùng xoài cát Hòa Lộc loại 2 và 04 rổ xoài cát Hòa Lộc loại 1, tổng giá trị là 22.320.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Đình T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Đặng Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất của vụ án: Bị cáo biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nhưng do tham lam, coi thường pháp luật nên bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi trên của bị cáo Đặng Đình T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét: Sau khi xảy ra sự việc, đến ngày 22/6/2024 bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị hại có Đơn bãi nại đối với bị cáo, cam kết không yêu cầu bồi thường hay khiếu nại gì về sau; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình bị cáo đông con, vợ sắp sinh (có hồ sơ khám thai). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ngoài những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên với thời gian bị cáo bị tạm giam cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, không gây nguy hiểm cho xã hội, cần tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, sửa chữa lỗi lầm của mình dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương.

Với nhận định như trên và theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo Đặng Đình T đủ điều kiện được hưởng án treo và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo T hưởng án treo.

Đối với tài xế xe ba gác bị cáo T thuê để chở hàng, T khai người này không biết việc T chiếm đoạt tài sản và T cũng không biết nhân thân lai lịch người này, do đó không có cơ sở để xác minh, xử lý.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Vision, biển số 37D2-501.86, số máy: JK03E6007230, số khung: RLHJK031412307397. Qua xác minh, chị Ngô Thị L1 đứng tên chủ sở hữu, chị L1 không biết việc Thông sử dụng xe mô tô biển số 37D2-501.86 để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, ngày 14/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Ngô Thị L1 là có căn cứ (BL60);

- 20 (hai mươi) thùng (mỗi thùng 30 kg) xoài cát Hòa Lộc loại 2- 04 (bốn) rổ (mỗi rổ 27 kg) xoài cát Hòa Lộc loại 1, tuy chưa thu hồi được nhưng đây là hoa quả tươi, thời hạn sử dụng ngắn nên không cần xem xét xử lý.

- 01 (một) USB màu xám, hiệu hoco 32GB, ghi lại hình ảnh Thông vào vựa D1- 24 chợ Đ địa chỉ số A, QL1A, K, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là tài liệu liên quan đến vụ án.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 22/6/2024, bị cáo Đặng Đình T đã bồi thường cho bị hại là chị Nguyễn Thị X số tiền 22.320.000 đồng. Chị X đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm và cam kết không khiếu kiện, khiếu nại về sau nên Hội đồng xét xử không xem xét (BL65-66).

[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và thực hiền quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Đặng Đình T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đặng Đình T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

    Giao bị cáo Đặng Đình T cho Ủy ban nhân dân phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đặng Đình T có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt trước của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

    Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu xám, hiệu hoco 32GB, ghi lại hình ảnh của bị cáo T liên quan đến vụ án.

  4. Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

    Buộc bị cáo Đặng Đình T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

  5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

    Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. HCM;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 416/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 416/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho hưởng Aán treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger