Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số:416/2023/HS-ST

Ngày: 22-8-2023.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh;

2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 389/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 437/2023/QĐXXST-HS, ngày 07/8/2023, đối với:

Bị cáo: Lê Vũ K, sinh năm 2002 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Khu phố R, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Quang B, sinh năm 1976 và bà Vũ Thị M, sinh năm 1977. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

Người bị hại: Ông Lê Văn V, sinh năm 1982 (đã chết).

Địa chỉ thường trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1958 (mẹ bị hại); bà Lê Thị Mai L1, sinh năm 1987 (vợ bị hại); anh Lê Quốc T, sinh ngày 17/01/2005 (con bị hại); chị Lê Thị Tường V1, sinh năm 2011 (con bị hại). Địa chỉ thường trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên lạc: Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bà L1 đồng thời là người đại diện theo pháp luật của anh T và chị V1. Bà L1, anh T, chị V1 có mặt; bà L vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Khu phố R, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 18/9/2022, K điều khiển xe mô tô biển số 60F3-586.54 lưu thông trên làn đường số 04 (tính từ dải phân cách vào lề phải) đường Quốc lộ 51, hướng huyện L đi thành phố B trong điều kiện thời tiết có mưa nhỏ. Khi đi đến đoạn Km09+200 thuộc phường T, thành phố B, K quan sát thấy phía trước có 01 xe ô tô (không rõ biển số) di chuyển từ làn đường bên ngoài vào làn đường số 04 (dành cho xe mô tô) và dừng lại sát lề đường bên phải, nên K điều khiển xe chuyển sang làn đường số 03 (liền kề) để vượt xe ô tô trên. Do K điều khiển xe không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát và chuyển làn không đảm bảo an toàn nên đã va chạm với anh Lê Văn V, sinh năm 1982, ngụ ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang đang bộ qua đường theo hướng từ dải phân cách vào lề phải (hướng xe Kiệt lưu thông) tới làn đường số 03, làm K và anh V cùng té ngã xuống đường gây tai nạn giao thông. Anh V và K được người dân đưa đi Bệnh viện Đ. Hậu quả, anh Lê Văn V bị thương nặng và tử vong ngày 19/9/2022.

Tại biên bản dựng lại hiện trường tai nạn giao thông ngày 19/9/2022 của Công an thành phố B, đã xác định:

- Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường Quốc lộ 51 (Km09+200), thuộc khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đường đôi, có dải phân cách bằng xi măng ở giữa phân chia thành hai chiều lưu thông. Mặt đường được trải nhựa phẳng, hơi dốc và hơi cong về bên trái, được chia làm 04 làn xe lần lượt tính từ dải phân cách vào lề đường bên phải gồm: Làn 01, 02, 03 (làn dành cho xe ô tô), mỗi làn rộng 3,50m; làn 04 (dành cho xe 02, 03 bánh) rộng 04m. Làn đường được phân chia bằng vạch 2.1 và 2.2.

- Vết cày không liên tục của xe mô tô biển số 60F3-586.54 nằm trên làn đường số 03, dài 20m; Đầu vết cách lề phải 04m60 và cách trụ đèn đường 24/7 là 09m20.

- Xe mô tô biển số 60F3-586.54 ngã nghiêng về bên phải trên làn đường số 03, đầu xe hướng vào lề phải, đuôi xe hướng dải phân cách. T1 trục bánh xe phía trước cách lề phải 0m80; T1 trục bánh xe phía sau cách lề phải 01m60 và cách đầu vết cày xe mô tô biển số 60F3-586.54 là 19m60.

(Tất cả các dấu vết, chiều hướng đều được đo vào mép lề đường bên phải đường Quốc lộ 51, hướng huyện L đi ngã tư Vũng Tàu (gọi tắt là lề phải) và trụ đèn đường số 24/7 làm mốc).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 2019/KL-KTHS ngày 26/10/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận nguyên nhân tử vong của anh Lê Văn V như sau:

Dấu hiệu chính: Bên ngoài xây sát da vùng trán - má, dập rách niêm mạc môi; xây sát bầm tím da vùng ngực và hạn sườn phải, xây sát da vùng bụng - hạ vị; xây sát rách da vùng chân. Giải phẫu trong ổ bụng có máu, dập phổi hai bên, dập rách tá tràng, vỡ đầu tuỵ.

Nguyên nhân tử vong: Ngừng hô hấp tuần hoàn do chấn thương ngực - bụng kín dập phổi, rách tá tràng, vỡ đầu tuỵ.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Vũ K đã bồi thường cho gia đình anh Lê Văn V số tiền 80.000.000 đồng. Chị Lê Thị Mai L1 (vợ bị hại) đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho K, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả xe mô tô biển số 60F3-586.54 cho bà Phạm Thị N.

Tại Cáo trạng số 387/CT-VKS-BH, ngày 03/7/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Lê Vũ K về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự; khoản 23 Điều 8, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ để xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

    Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

  2. [2] Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:

    Xét thấy, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 18/9/2022, tại Km09+200, đường Q, thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Vũ K không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 60F3-586.54 thiếu chú ý quan sát, chuyển làn không đảm bảo an toàn nên đã va chạm với anh Lê Văn V đang bộ hành qua đường gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm anh V tử vong.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 13 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết một người, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 và thuộc tình tiết quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

  1. [3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt:

    Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự ưu việt của pháp luật hình sự Việt Nam, đề cao tính nhân văn, nhân đạo đối với người có hành vi phạm tội, nhằm tạo điều kiện cho người bị kết án nhận ra lỗi lầm, tích cực cải tạo để trở thành người có ích cho gia đình, xã hội.

  2. [4] Về trách nhiệm Dân sự: Bị cáo đã bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
  3. [5] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả xe mô tô biển số 60F3-586.54 cho bà Phạm Thị N.
  4. [6] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp.
  5. [7] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:
  • - Căn cứ khoản 9, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 13 Luật giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo Lê Vũ K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt.

  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Vũ K phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Căn Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an TP Biên Hòa;
  • - Chi cục THA DS TP Biên Hòa;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Viết Dược

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 416/2023/HS-ST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 416/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger