|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 415/2024/DS-PT Ngày 28-8-2024 V/v tranh chấp “Qquyền sử dụng đất” “Đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.
Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân;
Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 346/2023/TLPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2023/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 374/2024/QĐPT-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị X(Sà) (đã chết ngày 01-7-2022);
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
- Ông Phạm Văn M năm 1961; (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn C năm 1967; (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị T năm 1976; (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn T1 năm 1978; (có mặt)
Cùng cư trú tại: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh
- Bà Phạm Thị G năm 1969; cư trú tại: ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị P năm 1974; cư trú tại: khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị C1 năm 1975; cư trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Mông C2 Thà Gbà Phà C1: Ông Phạm Văn T1 năm 1978; cư trú tại: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
- Đồng bị đơn:
- Bà Đoàn Thị N năm 1972; hộ khẩu thường trú: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninhnơi ở hiện nay: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
- Ông Đoàn Văn T2 năm 1972; (có mặt)
- Bà Đoàn Thị N1 năm 1976; (có mặt)
- Ông Đoàn Văn H năm 1980; (có mặt)
Cùng cư trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh
- Ông Mai Văn T3 năm 1959; (có mặt)
- Ông Mai Văn H1 năm 1961; (có mặt)
- Ông Mai H2 T4sinh năm 1967; (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đoàn Thị N2: Ông Dương Văn H3 năm 1968; cư trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thị B năm 1940, (vắng mặt)
- Bà Đoàn Thị B1 năm 1969, (vắng mặt)
- Ông Đoàn Tấn S năm 1976. (có mặt)
Cùng cư trú tại: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh
- Ông Đoàn Văn P1 năm 1964; cư trú tại: ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (có đơn đề nghị vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị H4 năm 1956; cư trú tại: ấp L, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, (có mặt)
- Ông Huỳnh Văn K năm 1960; (Tòa án không triệu tập)
- Ông Huỳnh Văn Đ năm 1964; (Tòa án không triệu tập)
- Ông Huỳnh Văn N3 năm 1969; (Tòa án không triệu tập)
Cùng cư trú tại: ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Bà Huỳnh Thị T4 năm 1966; cư trú tại: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. (Tòa án không triệu tập)
- Bà Nguyễn Thị L năm 1968; địa chỉ: ấp P, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (Tòa án không triệu tập)
- Chị Mai Thị T5 năm 1996; địa chỉ: ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (Tòa án không triệu tập)
- Chị Mai Kim Y năm 1993; địa chỉ: ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (Tòa án không triệu tập)
- Bà Đoàn Thị P2 năm 1962; địa chỉ: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; (Tòa án không triệu tập)
- Ông Trương Văn T7sinh năm 1965; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, Thành Phố Hồ Chí Minh. (Tòa án không triệu tập)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P5 Ông Trần T6 T8Luật sư Văn phòng luật sư Trần M1 T9thuộc đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Đoàn Thị N2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/10/2021 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Mông C2 Thà Gbà Phà C1– ông Phạm Văn T7 bày:
Ông là con của bà Đoàn Thị X(Sà) (đã chết năm 2022) và ông Phạm Văn H5(đã chết năm 2018). Cha mẹ ông có tất cả 07 người con gồm: Phạm Văn MPhạm Văn CPhạm Thị TPhạm Văn T1Phạm Thị GPhạm Thị PPhạm Thị C1Ngoài ra cha mẹ ông không có con riêng hay con nuôi nào khác.
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông bà ngoại của ông là cụ Võ Thị C3 cụ Đoàn Văn D chết để lại. Ông bà ngoại của ông có tất cả 04 người con gồm:
- Đoàn Văn D1(đã chết năm 2020). Ông D1có người vợ đầu tên Mai Thị A (đã chết năm 2015); Ông D1và bà A có tất cả 06 người con gồm Mai Văn T8(đã chết, không vợ con), ông Mai V T3Mai Văn H1Mai Hùng T Ngọc L(đã chết năm 1996). Ông L1có vợ tên Nguyễn Thị L1 L1và bà L2 02 người con gồm Mai Thị T6và Mai Kim YVợ thứ hai của ông D21(đã chết năm 2014). Ông D1và bà H5có tất cả 04 người con gồm bà Đoàn Thị N4 Đoàn Văn T2Đoàn Thị Nvà Đoàn Văn H
- Đoàn Tấn V1(đã chết 2012) có vợ tên Hồ Thị B2 Vvà bà B3 tất cả 03 người con gồm Đoàn V2 P1Đoàn Thị B1và Đoàn Tấn S1
- Đoàn Thị S2(đã chết) có chồng tên Huỳnh Văn S2bà S1và ông S2có tất cả 05 người con gồm Huỳnh Thị H3Huỳnh Văn KÔng Huỳnh Văn Đông Huỳnh Văn N2Bà Huỳnh Thị T5
- Đoàn Thị X (S là mẹ của ông.
Diện tích phần đất của ông bà ngoại để lại khoảng 50 cao (5.000m²). Khi bà ngoại còn sống chưa chia cho ai, do ông D1quản lý sử dụng. Sau khi ông bà ngoại ông chết thì các cậu và mẹ ông thỏa thuận chia đất này vào năm 1991. Tuy nhiên do ban đầu chia theo đám thì những người được chia đất phía trong không có đường đi vào đất canh tác nên vào năm 2003, các cậu và mẹ ông, con bà Sllà bà Huỳnh Thị H6 thỏa thuận chia lại đất theo đó, mỗi người con gái được chia 10m ngang giáp đường, chia ông V23m ngang giáp đường, phần còn lại chia cho ông D2 chia đất có lập biên bản phân chia, có đại diện địa phương chứng kiến gồm ông 2 Khánh (Bí thư chi bộ), ông 5 R(trưởng ấp), ông 4 B2(Hội nông dân), ông H7(thư ký). Bản gốc biên bản phân chia ngày 22/6/2003 hiện nay không còn do thời gian đã lâu và bị thất lạc.
Sau khi chia đất thì đất của ai người đó quản lý sử dụng. Gia đình có nhờ cán bộ địa chính xuống đo ranh cắm trụ. Nhưng do ông V3 nhận 20m ngang, cho lại mẹ ông 02m, cho lại bà H301m nên khi cắm ranh cắm theo hiện trạng này. Sau khi đo đạc xong do diện tích từng người được chia chỉ khoảng 12 cao nên không làm thủ tục từng người mà để ông D1một mình kê khai đăng ký. Sau đó, do bà N(con của ông D1giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không làm thủ tục chia đất được. Năm 2012, bà Đoàn Thị X1 kiện ông Dlra Tòa nhưng do không có tranh chấp nên Tòa đình chỉ không giải quyết vụ án và hướng dẫn đương sự đi đăng ký quyền sử dụng đất nhưng không được. Vì vậy, bà X2 tục kiện ông D1vào năm 2017, nhưng Tòa vẫn trả đơn khởi kiện không giải quyết và hướng dẫn đăng ký quyền sử dụng đất nhưng vẫn không thể thực hiện được. Năm 2020, ông D1chết, các con của ông D3 đồng ý làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho mẹ ông là bà X3 tiếp tục khởi kiện ra Tòa. Quá trình sử dụng đất, ông sử dụng đất này từ năm 1991 đến năm 2020 (khi ông D1chết) thì bà N5 lại phần đất tranh chấp. Vào tháng 3 năm 2019, ông có tiến hành đổ 02 xe đất trên phần đất tranh chấp vì tính cất nhà ở. Thời điểm ông đổ đất thì ông D1còn sống. Khi tiến hành đổ đất thì phía ông D1không có ngăn cản gì cả. Trong trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông không yêu cầu trả lại số tiền đã đổ đất.
Ông đại diện cho các anh em của ông yêu cầu các con của ông Đoàn Văn D4 lại phần đất diện tích 935,3m² trong thửa 330, 331, 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây NinhÔng đồng ý thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bị đơn theo kết quả Hội đồng định giá đã định.
Bị đơn bà Đoàn Thị N6 đại diện theo ủy quyền trình bày: Tài liệu chứng cứ mà phía nguyên đơn khởi kiện là Văn bản thỏa thuận phân chia đất ngày 22/6/2003 nhưng chỉ nộp bản phô tô. Phía bị đơn có yêu cầu giám định chữ ký, tuổi mực của văn bản chia đất ngày 22/6/2003 nhưng phía nguyên đơn không cung cấp bản gốc. Vì vậy, phía bị đơn không thừa nhận chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. Mặt khác, phần đất tranh chấp ông Đoàn Văn D5 lý sử dụng trong thời gian dài, không ai tranh chấp. Ông D1cũng đã kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật. Điều đó thể hiện việc Nhà nước đã xây nhà tình nghĩa cho ông Đoàn Văn D6 năm 2001. Phía nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Đoàn Văn D7 cụ Võ Thị C4 không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này. Do đó, bà N7 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Hiện bà Huỳnh Thị H8 giữ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số H04694, H04695 ngày 08/5/2009 do ông Đoàn Văn D8 tên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bà H3trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N(con ông D1
Bị đơn – ông Đoàn Văn H9 bày: Về mối quan hệ nhân thân và các con của cụ Võ Thị C3 cụ Đoàn Văn D9 thừa nhận lời trình bày của ông T1là đúng. Nguồn gốc phần đất tranh chấp do cha ông khai phá và quản lý sử dụng từ trước cho đến khi cha ông chết năm 2020. Vào năm nào ông không biết cha ông có đưa đất ông T9(con bà X4 H3ông Vsử dụng 01 đến 02 năm thì lấy lại. Ông không sống cùng nhà với cha ông nên ông không biết việc chú, cô có về chia đất hay không. Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do nhờ người khác làm và mặt khác cha ông không rành chữ nghĩa nên ông nghĩ là cha ông có nhầm lẫn trong việc kê khai nguồn gốc đất. Phần đất tranh chấp, ông thừa nhận cha ông có cho con của bà X5 Veanh tác, sử dụng nhưng cụ thể vào thời gian nào ông không nhớ. Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ông yêu cầu những người này phải thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bị đơn.
Bị đơn bà Đoàn Thị Nlông Đoàn V4 T2trình bày: Từ khi sinh ra đến nay trên phần đất tranh chấp chỉ một mình ông D1ở và quản lý sử dụng phần đất này, không có có tài sản nào của bà nội trên đất. Nay ông/bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bị đơn ông Mai H2 T4trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Đoàn Văn H10 nguồn gốc đất do cha ông khai phá. Phần đất tranh chấp hiện nay do cha ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc quyền sử dụng đất của cha ông. Trong trường hợp, ông Tlbà H3ông Scho rằng đây là đất của ông bà vậy có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gì không. Nay ông không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bị đơn ông Mai V T3ông Mai Văn H1trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông H11 ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Huỳnh Thị H12 bày: Bà thống nhất về lời khai của ông Tlvề quan hệ nhân thân và nguồn gốc đất. Khi tiến hành làm thủ tục đăng ký đất cho từng người theo biên bản phân chia ngày 22/6/2003 thì do có phần đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà có đăng ký để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng để một mình ông D1đứng tên giấy chứng nhận. Do đó, khi làm thủ tục đăng ký kê khai những phần đất này, bà giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D10 yêu cầu các con của ông Đoàn Văn D4 lại phần đất diện tích 331,3m² trong thửa 330 và diện tích 285,4m² trong thửa 345, 196,1m² trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây NinhBà đồng ý thanh toán giá trị tài sản cho bị đơn theo kết quả Hội đồng định giá đã định.
Hiện nay bà đang giữ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D1nhưng do có liên quan đến phần đất tranh chấp nên bà không đồng ý trả lại cho phía bị đơn. Trong trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà thì bà đồng ý trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phía bị đơn.
Ông Huỳnh Văn Kông Huỳnh Văn Đ1 H21 bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Huỳnh Thị H13 quá trình giải quyết vụ án ông/bà có đơn khởi kiện đối với bị đơn. Hiện nay, ông/bà có đơn xin rút đơn khởi kiện. Ông/bà đồng ý giao phần đất tranh chấp này cho bà H3được quyền sử dụng đất.
Ông Đoàn Tấn S3 bày: Ông thống nhất lời trình bày của ông T1và bà H3về quen hệ nhân thân và nguồn gốc đất. Ông có sử dụng phần đất tranh chấp trong vòng 01 năm, do nhà xa nên ông giao lại cho bà Nsử dụng. Theo biên bản phân chia ngày 22/6/2003, cha ông được chia 23m ngang nhưng sau đó, cha ông đồng ý cho bà X02m ngang, cho bà H301m. Nay ông đồng ý với ý kiến của cha ông. Ông yêu cầu các con của ông Đoàn Văn D4 lại phần đất diện tích 1.241,6m² trong thửa 331 và diện tích 402,1m² trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh
Bà Hồ Thị B4 Đoàn Thị Blông Đoàn Văn P1trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Đoàn Tấn S4 có cùng yêu cầu với ông S
Bà Nguyễn Thị L3 Mai Thị T6chị Mai Kim Y1 bày: Bà, chị là vợ và con của ông Mai Ngọc L4(con của ông D11 đất tranh chấp là của ông Đoàn Văn D1(cha chồng của bà L5 nội của chị Y2 T6nên không đồng ý với yêu cầu với nguyên đơn.
Bà Đoàn Thị P3 Trương Văn T7trình bày: Ông/bà là con của bà Lê Thị H14 ông D1là cha dượng của ông/bà. Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông D12 với yêu cầu khởi kiện của các đương sự trong vụ án thì ông/bà không có ý kiến gì cả.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số: 46/2023/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 228, điều 157, 158, 165, 166, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 203 Luật đất đai; Điều 12, Điều 14, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Đoàn Thị X (Sà) (đã chết) gồm ông Phạm Văn M2 Phạm Văn C5 Phạm Thị T10 Phạm Văn Tlbà Phạm Thị G1 Phạm Thị Pbà Phạm Thị C6“tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4
- Ông Phạm Văn Mông Phạm Văn C7 Phạm Thị T10 P6 quyền sử dụng phần đất diện tích 935,3m² trong thửa 330, 331, 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây NinhCó tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất thửa 331 (phần đất bà Bỉ được chia) dài 20,1m + 60,96m; Hướng Tây giáp thửa 330, 345, 356 (phần đất bà H3dài 18,23m + 32,43m; Hướng Nam giáp đường nhựa dài 12m; Hướng Bắc giáp đất ông L2dài 3,75m + 9,66m.
- Buộc đồng bị đơn bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 935,3m² trong thửa 330, 331, 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninhcho Phạm Văn Mông Phạm Văn Cbà P P6 quyền sử dụng.
- Ông Phạm Văn Mông Phạm Văn C7 Phạm Thị T10 P7 toán giá trị tài sản cho bị đơn số tiền 5.400.000 đồng.
- Ông Phạm Văn Mông Phạm Văn C7 Phạm Thị T10 P6 quyền sở hữu tài sản trên đất là 21 cây tràm vàng.
- Ông Phạm Văn Mông Phạm Văn C7 Phạm Thị T10 P6 quyền sử dụng phần đất diện tích 935,3m² trong thửa 330, 331, 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây NinhCó tứ cận như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H15“tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4
- Bà Huỳnh Thị H16 quyền sử dụng phần đất diện tích 331,3m² trong thửa 330 và diện tích 285,4m² trong thửa 345, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất bà X6 chia dài18,23m + 32,43m; Hướng Tây giáp thửa 330, 345, 356 (phần đất ông D1dài 17,67m + 29,46m + 26,27m; Hướng Nam giáp đường nhựa dài 11m; Hướng Bắc giáp đất ông L2dài 1,78m + 9,63m + 0,48m.
- Bà Huỳnh Thị H16 quyền sử dụng phần đất diện tích 331,3m² trong thửa 330 và diện tích 285,4m² trong thửa 345, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có tứ cận như sau:
- Buộc đồng bị đơn bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 331,3m² trong thửa 330 và 285,4m² trong thửa 345, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninhcho bà Huỳnh Thị H16 quyền sử dụng.
- Bà Huỳnh Thị H17 nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4số tiền 14.170.000 (Mười bốn triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng giá trị tài sản.
- Bà Huỳnh Thị H16 quyền sở hữu cây trồng trên đất gồm 08 cây cao su, 04 cây dừa, 01 cây điều, 22 cây tràm vàng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Bông Đoàn V5 P1bà Đoàn Thị Blông Đoàn Tấn S1“tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4
- Bà Hồ Thị Bông Đoàn V5 P1bà Đoàn Thị Blông Đoàn Tấn S5 quyền sử dụng phần đất diện tích 1.241,6m² trong thửa 331 và diện tích 402,1m² trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây NinhCó tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất thửa 314, 332 dài 19,91m + 57,27m + 5,81m + 1,39m;
- Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa 331, 356 dài dài 20,1m + 60,96m;
- Hướng Nam giáp đường nhựa dài 20m;
- Hướng Bắc giáp thửa 313 dài 14,31m.
- Buộc đồng bị đơn bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 1.241,6m² trong thửa 331 và diện tích 402,1m² trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninhcho bà Hồ Thị B5 Đoàn Văn P1bà Đoàn Thị Blông Đoàn Tấn S1
- Bà Hồ Thị Bông Đoàn V5 P1bà Đoàn Thị Blông Đoàn Tấn S5 quyền sử dụng phần đất diện tích 1.241,6m² trong thửa 331 và diện tích 402,1m² trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây NinhCó tứ cận như sau:
(Kèm theo sơ đồ đất)
- Kiến nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai điều chỉnh 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số H04694, H04695 của Ủy ban nhân dân huyện T13(nay là thị xã Tcấp cùng ngày 08/5/2009 cho ông Đoàn Văn D20 tên và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 04962QSD/439/2001/QĐUB Ủy ban nhân dân huyện T13(nay là thị xã T vào ngày 20/6/2001 do ông Đoàn Văn D8 tên cho phù hợp với quyết định của bản án.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đoàn Thị N2“Tranh chấp đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với bà Huỳnh Thị H15
- Buộc bà Huỳnh Thị H17 nghĩa vụ trả lại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số H04694, H04695 do Ủy ban nhân dân huyện T13(nay là thị xã Tcấp cùng ngày 08/5/2009 do ông Đoàn Văn D8 tên (bản gốc). Giao nộp tại Cơ quan Chi Cục thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Tây Ninhđể thi hành án.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn K1 Huỳnh Văn Đ1 H20.
- Chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản:
Bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4có nghĩa vụ trả lại ông Phạm Văn T12 tiền 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn) đồng.
Bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4có nghãi vụ trả lại bà Huỳnh Thị H19 (Hai triệu) đồng.
Bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4trả lại ông Đoàn Tấn S8 tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Văn T11 chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Huỳnh Thị H15
Hoàn trả cho ông Huỳnh Văn Đ1 Huỳnh Văn N2bà Huỳnh Thị T5số tiền tạm ứng án phí 1.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026694 ngày 01/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Hoàn trả cho ông Đoàn Tấn S7 Đoàn Văn P1bà Đoàn Thị B1số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026905 ngày 17/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4phải chịu 900.000 (chín trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Đoàn Thị N15 tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027288 ngày 12/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Đoàn Thị N2 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Ghi nhận nộp xong theo Biên lai thu số: 0027456 ngày 16-8-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Giang |
Bản án số 415/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 415/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
