|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 415/2025/DS-PT Ngày: 10/6/2025 V/v Tranh chấp thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Chu Tuấn Anh |
| Các thẩm phán: | Ông Đàm Văn Thuận |
| Ông Cao Anh Tuấn | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Lưu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: | Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. |
Trong các ngày 05 và 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 602/2024/TLPT-DS ngày 16/12/2024 về việc "Tranh chấp chia thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 324/2025/QĐ-PT ngày 25/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 348/2025/QĐPT-HPT ngày 14/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1953 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, Hà Nội.
Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1962 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, Hà Nội
Đại diện theo uỷ quyền của ông Đ:
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1963 (có mặt).
- Chị Trần Thị T1, sinh năm 1986 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, Hà Nội.
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị L1, sinh năm 1957 (có mặt).
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1963 (có mặt).
- Anh Trần Văn N, sinh năm 1990 (có mặt).
- Chị Hà Thị T2, sinh năm 1995 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, Hà Nội.
- Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, Hà Nội (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân H – Chủ tịch.
*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T, anh Trần Văn N: Luật sư Đinh Thị Kim T3 và luật sư Đinh Anh T4 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Công ty L2 -A T, phường L, quận H, Hà Nội (có mặt).
Người kháng cáo: Ông Trần Văn Đ là bị đơn; anh Trần Văn N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
* Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Văn L trình bày: Bố đẻ của ông L là cụ Trần Văn P (đã chết năm 2000), mẹ đẻ của ông L là cụ Lê Thị H1 (đã chết năm 1993). Cụ P và cụ H1 có 03 người con là ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1 và ông Trần Văn Đ. Ngoài ra không có người con chung, con riêng, con nuôi nào khác. Bố mẹ của cụ Trần Văn P là cụ Trần Văn T5 và cụ Vũ Thị S (đều đã chết từ rất lâu). Bố mẹ của cụ Lê Thị H1 cũng đã chết từ rất lâu. Cụ T5 và cụ S không có bố mẹ nuôi. Trước khi chết, bố mẹ ông L là cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1 có để lại di sản là:
- Thửa đất số 03, số thửa 221, diện tích 1.073m² tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, đã được cấp GCN quyền sử dụng đất cho cụ Trần Văn P ngày 09/4/2004. Trên thửa đất có 05 gian nhà cấp 4 xây năm 1976 do cụ P và cụ H1 xây dựng.
- Thửa đất số 03, số thửa 220, diện tích 241m² tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, là đất nông nghiệp cụ P nhận thầu từ năm 1993 của HTX N1. Trên thửa đất không có công trình xây dựng gì.
Toàn bộ số di sản trên ông Trần Văn Đ quản lý và sử dụng từ năm 1998 đến nay.
Trước khi chết, ngày 09/4/1998, cụ Trần Văn P có để lại di chúc có nội dung như sau: Giao cho ông L sử dụng diện tích đất 588,46m² của thửa đất số 03, số thửa 221 nằm trong diện tích 1.073m² và toàn bộ tài sản trên đất gồm có 03 gian nhà cấp 4. Phần diện tích đất còn lại và 02 gian nhà cấp 4 giao cho ông Đ sử dụng. Di chúc không được công chứng, chứng thực. Ông Đ không thực hiện theo di chúc. Nay ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản theo di chúc của cụ P ngày 09/4/1998 và chia thửa đất số 03, số thửa 220, diện tích 241m² tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội chia đôi cho ông L và ông Đ cùng có quyền sử dụng. Trường hợp không chia theo di chúc thì ông L đề nghị phân chia theo quy định pháp luật. Cụ P, cụ H1 không để lại nghĩa vụ nợ nần gì. Đối với: Chi phí mai táng cho cụ P và cụ H1 do ông L và ông Đ cùng chi trả. Ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết chi phí mai táng và không có yêu cầu gì khác.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền bị đơn ông Trần Văn Đ trình bày: Ông Đ là con của cụ P và cụ H1. Ông Đ xác nhận nhân thân của cụ P và cụ H1 như ông L trình bày là đúng. Trước khi chết, cụ P và cụ H1 có để lại di sản là:
- Thửa đất số 03, số thửa 221, diện tích 1.073m² tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, đã được cấp GCN quyền sử dụng đất cho cụ Trần Văn P ngày 09/4/2004. Trên thửa đất có 05 gian nhà cấp 4 xây năm 1976 do cụ P và cụ H1 xây dựng. Thửa đất trên cụ P và cụ H1 đã cho ông Đ nhưng không có giấy tờ, văn bản gì, chỉ cho miệng, cụ P và cụ H1 đã cho ông L phần diện tích đất ở chỗ khác, ông L đã được cấp GCN quyền sử dụng đất đối với thửa đất đó. Ông Đ không có ý kiến và không có yêu cầu gì đối với thửa đất đã cấp GCN quyền sử dụng đất cho ông L.
- Thửa đất số 03, số thửa 220, diện tích 241m² tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, là đất nông nghiệp cụ P nhận thầu từ năm 1993 của HTX N1 nhưng là do vợ chồng ông Đ, bà T đưa tiền cho cụ P đi nộp nhận thầu (ông Đ không có chứng cứ gì về việc đưa tiền này và ông Đ cũng không nhớ đưa cho cụ P bao nhiêu tiền). Trên thửa đất không có công trình xây dựng gì.
Toàn bộ số di sản trên ông Đ đang quản lý và sử dụng, ông Đ đóng thuế hàng năm. Trước khi chết, cụ P và cụ H1 không để lại di chúc. Ông Đ không được biết bản di chúc 09/4/1998 của cụ P, ông Đ không công nhận di chúc. Nay ông L khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, quan điểm của ông Đ là không đồng ý vì cụ P, cụ H1 chết không để lại di chúc, ông Đ không công nhận di chúc do ông L cung cấp. Toàn bộ di sản của cụ P và cụ H1 để lại là của ông Đ vì gia đình ông Đ vẫn ở trên thửa đất đó từ trước tới nay. Tại biên bản đối chất ngày 10/01/2024, ông Đ trình bày đối với di sản của cụ P và cụ H1 để lại, vợ chồng ông Đ, bà T có công sức đóng góp đổ đất lấp 04 cái ao trị giá 400 triệu đồng, ngoài ra không có ai có công sức đóng góp gì, anh N, chị T2 không có công sức đóng góp gì trong khối di sản của cụ P và cụ H1 để lại. Tại các lời khai sau đó, ông Đ trình bày vợ chồng ông Đ, bà T và các con là anh Trần Văn N và chị Hà Thị T2 có công sức đóng góp đổ đất lấp 04 cái ao và tôn vườn, xây tường bao trị giá 400 triệu đồng (đổ đất năm 2000) thửa đất số 03, số thửa 221. Ngoài ra không có ai khác có công sức đóng góp gì. Vợ chồng ông Đ, bà T còn có công sức trong việc cụ P nhận thầu đất nông nghiệp của HTX N1, mặc dù đứng tên cụ P nhưng tiền là do vợ chồng ông Đ, bà T đưa cho cụ đóng để nhận thầu (cụ thể bao nhiêu tiền ông Đ không nhớ, không có chứng cứ gì cung cấp cho Tòa án). Ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết về công sức cho vợ chồng ông Đ, và các con là anh N và chị T2, đề nghị Tòa án khi giải quyết phân chia di sản thừa kế xem xét đến công sức của vợ chồng ông Đ, bà T và các con là anh N, chị T2 đã lấp ao, tôn vườn, xây tường bao hết 400 triệu đồng, ai được hưởng di sản sẽ phải thanh toán tiền 400 triệu cho ông Đ, bà T, anh N và chị T2 (cụ thể là anh N, chị T2 đóng góp 200 triệu đồng, vợ chồng ông Đ, bà T đóng góp 200 triệu đồng, ông Đ không có chứng cứ gì về việc này, ông cũng không nhớ đã thuê ai đổ đất, còn sống hay đã chết) và công sức trong việc vợ chồng ông Đ, bà T đưa tiền cho cụ P nhận thầu đất. Ông Đ không yêu cầu công sức đối với cây cối trên đất. Cụ P, cụ H1 không để lại nghĩa vụ nợ nần gì. Đối với: Chi phí mai táng cho cụ P và cụ H1 do ông L và ông Đ cùng chi trả. Ngoài ra, ông Đ trình bày thời điểm cấp GCN quyền sử dụng đất cho cụ P (năm 2004, thời điểm này cụ P đã chết). Ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết chi phí mai táng và không có yêu cầu gì khác.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L1 trình bày: Bà L1 là con của cụ P và cụ H1. Bà L1 xác nhận nhân thân của cụ P và cụ H1 như ông L trình bày. Trước khi chết, cụ P và cụ H1 có để lại di sản là:
- Thửa đất số 03, số thửa 221, diện tích 1073m² tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, đã được cấp GCN quyền sử dụng đất cho cụ Trần Văn P ngày 09/4/2004. Trên thửa đất có 05 gian nhà cấp 4 xây năm 1976 do cụ P và cụ H1 xây dựng;
- Thửa đất số 03, số thửa 220, diện tích 241m² tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, là đất nông nghiệp cụ P nhận thầu từ năm 1993 của HTX N1. Trên thửa đất không có công trình xây dựng gì.
Ngoài ra không có di sản nào khác. Toàn bộ số di sản trên ông Đ đang quản lý và sử dụng. Trước khi chết, cụ P và cụ H1 không để lại di chúc. Bà L1 không được biết bản di chúc ngày 09/4/1998, không công nhận di chúc. Nay ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế của cụ P, cụ H1 để lại, quan điểm của bà là đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, trường hợp phân chia di sản thừa kế bằng hiện vật thì kỷ phần thừa kế của bà L1, bà L1 nhận bằng diện tích đất, chứ không nhận bằng tiền. Cụ P, cụ H1 không để lại nghĩa vụ nợ nần gì. Đối với: Chi phí mai táng cho cụ P và cụ H1 do ông L và ông Đ cùng chi trả. Bà L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết chi phí mai táng và không có yêu cầu gì khác.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T có cùng quan điểm với bị đơn là ông Trần Văn Đ.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn N trình bày: Anh N sinh sống trên thửa đất số 03, số thửa 221, đứng tên cụ P từ khi sinh ra tới nay. Ông Đ, bà T và vợ chồng anh N, chị T2 có công sức đóng góp đổ đất lấp 04 cái ao và tôn vườn, xây tường bao trị giá 400 triệu đồng (đổ đất năm 2000) thửa đất số 03, số thửa 221 (vợ chồng anh N, chị T2 góp 200 triệu đồng). Ngoài ra không có ai khác có công sức đóng góp gì. Anh N không có chứng cứ gì cung cấp cho Tòa án. Anh N yêu cầu Tòa án giải quyết về công sức cho ông Đ, bà T và vợ chồng anh, đề nghị Tòa án khi giải quyết phân chia di sản thừa kế xem xét đến công sức của vợ chồng ông Đ, bà T và các con là anh N, chị T2 đã lấp ao, tôn vườn, xây tường bao hết 400 triệu đồng, ai được hưởng di sản sẽ phải thanh toán tiền 400 triệu cho ông Đ, bà T và vợ chồng anh (cụ thể vợ chồng anh đóng góp 200 triệu đồng). Ngoài ra anh N không có yêu cầu gì khác.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị T2 có cùng quan điểm với anh Trần Văn N.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện UBND xã P có quan điểm: Cụ Trần Văn P (đã chết ngày 01/12/2000), cụ Lê Thị H1 (đã chết ngày 04/9/1993). Cụ P và cụ H1 có 03 người con là ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1 và ông Trần Văn Đ. Ngoài ra không có người con chung, con riêng, con nuôi nào khác. Bố mẹ của cụ Trần Văn P là cụ Trần Văn T5 và cụ Vũ Thị S (đều đã chết từ rất lâu). Bố mẹ của cụ Lê Thị H1 cũng đã chết từ rất lâu. Căn cứ bản đồ đo vẽ năm 1986 (bản đồ 299) và sổ mục kê năm 2000 thì vị trí thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03 với diện tích 1.070 m² (trong đó đất ở: 200 m², đất vườn: 870 m²) ghi tên cụ Trần Văn P (là bố đẻ của ông L và ông Đ). Năm 2004, cụ Trần Văn P đã được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03 với diện tích 1.070 m² (trong đó đất ở 200 m², đất vườn 870 m²). Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó ghi: Chủ hộ ông Trần Văn P. Việc cấp GCN quyền sử dụng đất căn cứ đơn và hồ sơ xin cấp GCN quyền sử dụng đất của cụ Trần Văn P ngày 23/8/2000. Nguồn gốc thửa đất: là của cụ P và cụ H1 (vợ của cụ P). Đối với đất thầu là thửa đất số 03, số thửa 220 với diện tích 241 m² tại thôn P: Căn cứ hồ sơ quản lý ở địa phương, năm 1993, HTX nông nghiệp thôn P có biên bản hợp đồng đấu thầu đất cho cụ Trần Văn P (biên bản hợp đồng đấu thầu đất số 01/BB-HĐ ngày 01 tháng 01 năm 1993) với thời hạn 30 năm trở lên để sản xuất nông nghiệp. Đến nay đã được 31 năm (đã hết thời hạn hợp đồng). Trong hợp đồng không ghi số tờ bản đồ, không ghi số thửa mà chỉ ghi diện tích là 7 thước (quy ra 168 m²). Về mặt thực tế, diện tích gia đình cụ P sử dụng (giáp đất thổ cư) theo bản đồ 299 (đo vẽ năm 1986) thì thuộc tờ bản đồ số 03, thửa đất số 220 với diện tích 241 m². UBND xã xác định diện tích đất này là đất công, do HTXNN giao thầu đất là không đúng thẩm quyền. Nay các bên tranh chấp thừa kế, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm: ông Trần Văn L, người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị L1 đều vẫn giữa nguyên quan điểm yêu cầu của mình. Bà Lê Thị T nêu ra ý kiến đề nghị HĐXX xem xét việc UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Trần Văn P sau khi cụ P chết và cho rằng việc làm hồ sơ cấp như vậy do ông L tự ý kê khai vì thời điểm đó ông L làm ở hợp tác xã và nhờ vả chính quyền để cấp mang tên cụ P trong khi cụ P đã chết là đúng hay sai.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 656, Điều 657, Điều 659, Điều 671 Bộ luật Dân sự 1995. Căn cứ Điều 623, Điều 649, 650, 651, 660, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Áp dụng khoản 15 Điều 3 và Điều 95 Luật Đất đai 2013. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH ngày 30/12/2016.
* Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn L đối với bị đơn ông Trần Văn Đ. Về việc yêu cầu chia tài sản là di sản thừa kế của cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1.
- Xác định Bản di chúc ngày 09/4/1998 của cụ Trần Văn P không hợp pháp.
- Xác định thửa đất số 03, số thửa 220 với diện tích 241 m² tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội không phải là di sản thừa kế của cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1.
- Xác định di sản thừa kế của cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1 là quyền sử dụng thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.073m² tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, GCN quyền sử dụng đất chủ hộ Trần Văn P cấp ngày 09/4/2004 có giá trị 5.365.000.000đ (Năm tỷ, ba trăm sáu mươi lăm triệu đồng). và tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4 xây dựng năm 1976, lợp mái ngói, cửa gỗ, nền lát gạch đỏ do cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1 xây dựng có giá trị 9.991.000đ. ( Chín triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn đồng). Tổng giá trị di sản là 5.374.991.000đ (Năm tỷ, ba trăm bảy mươi tư triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1 gồm 03 người con: Ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ.
- Cắt phần diện tích đất 65,7m² giới hạn bởi các điểm 19,3,4,5,6,20,19 là lối đi chung của thửa đất số 221-1 và 221-3. ( Có sơ đồ hiện trạng kèm theo)
- Giao cho ông Trần Văn L được quyền sử dụng diện tích đất và các cây cối, tài sản, công trình trên phần diện tích đất: 309,6m² của thửa đất số: 221-2, tờ bản đồ số: 03 ( Trong đó có 65m² đất ở; 244,6m2 đất vườn), được giới hạn bởi các điểm 17, 21, 12, 13, 15, 16, 17 có giá trị 1.548.000.000 đồng và 01 nhà cấp 4 xây dựng năm 1976, lợp mái ngói, cửa gỗ, nền lát gạch đỏ và các cây trồng trên đất có giá trị 9.991.000 đồng. Tổng giá trị tài sản ông Trần Văn L được hưởng thừa kế là 1.557.991.000 đồng
Tạm giao cho ông Trần Văn L được sử dụng diện tích đất nông nghiệp giao thầu, diện tích 33,5m² làm lối đi ra đường giao thông, tại thửa đất số 220, tờ bản đồ số 03 cho đến khi cơ quan nhà nước có quyết định thu hồi hoặc quyết định khác. ( Có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T có nghĩa vụ tháo dỡ bức tường bao trên phần lối đi 33,5m² tại thửa đất số 220, tờ bản đồ số 03. ( Có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Ông Trần Văn L có nghĩa vụ thanh toán giá trị bức tường bao cho ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T số tiền là 7.200.000 đồng.
Ông Trần Văn L có nghĩa vụ thanh toán giá trị di sản trên đất cho ông Trần Văn Đ số tiền là 3.331.000 đồng. Ông Trần Văn L có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị L1 số tiền là 3.331.000 đồng.
- Giao cho bà Trần Thị L1 được quyền sử dụng diện tích đất và các cây trồng, tài sản, công trình trên phần diện tích đất: 309,6m² của thửa đất số: 221-3, tờ bản đồ số: 03 ( Trong đó có 65m² đất ở; 244,6m2 đất vườn) giới hạn bởi các điểm 12, 21, 20, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, có giá trị 1.548.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bà Trần Thị L1 được hưởng thừa kế:1.548.000.000đ + 3.331.000đ = 1.551.331.000 đồng. ( Có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
- Giao cho ông Trần Văn Đ được quyền sử dụng đất và các cây trồng, tài sản, công trình trên phần diện tích đất: 388,1m² của thửa đất số: 221-1, tờ bản đồ số: 03 ( Trong đó có 70m² đất ở, 318,1m2 đất vườn), được giới hạn bởi các điểm 17, 21, 20, 19, 18, 17, có giá trị 1.940.500.000 đồng và các tài sản trên đất gồm 01 nhà 02 tầng xây dựng năm 2023 cùng các công trình ( là tài sản hộ gia đình ông Đ, bà T). Tổng giá trị tài sản ông Đ được hưởng thừa kế là: 1.940.500.000đ + 3.331.000đ = 1.943.831.000 đồng. ( Có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được giao quyền sử dụng đất có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp khi kê khai làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, các bên đương sự không hợp tác giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản gốc) để điều chỉnh, chỉnh lý, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc theo đúng quy định của pháp luật.
+ Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho các ông bà gồm: Ông Trần Văn L, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị L1, bà Lê Thị T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, ông Trần Văn Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì. Theo đơn kháng cáo, ông Trần Văn Đ trình bày bản án dân sự sơ thẩm không khách quan, không đánh giá hết các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không làm rõ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn P là đúng hay sai và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Ông yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, thu thập thêm chứng cứ làm rõ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn P.
Anh Trần Văn N có đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì. Theo đơn kháng cáo, anh Trần Văn N trình bày bản án dân sự sơ thẩm chưa xem xét công sức đóng góp của anh trong việc đổ đất, lấp ao, tôn vườn, xây tường bao, san nền với số tiền 200.000.000 đồng. Đề nghị tòa án cấp phúc thẩm xem xét để anh hưởng đúng quyền lợi của mình.
Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm:
*Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2025 đối với bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T.
Bà Trần Thị L1 Trình bày:
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế giữa ông Trần Văn L và ông Trần Văn Đ, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã ra bản án số 78/2024/DS-ST ngày 21/08/2024. Sau đó, em tôi là Trần Văn Đ và cháu tôi là Trần Văn N kháng cáo và Tòa án thành phố Hà Nội đang thụ lý theo thủ tục phúc thẩm.
Khi Tòa án thành phố Hà Nội đang thụ lý thì tôi được sự đồng ý của em tôi là ông Trần Văn Đ. Tôi đã xây nhà 2 tầng diện tích 48m². Tiền bạc công sức hoàn toàn là của tôi bỏ ra hết 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng chẵn). Diện tích nhà 2 tầng: 12mx4m = 48m² nêu trên nằm hoàn toàn trong diện tích 309,6m² tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 3, thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội mà bản án sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì chia cho ông Trần Văn L.
Khi tôi đã làm xong móng và xây cao khoảng 1m thì ngày 18/11/2024 UBND xã P có công văn số 126/UBND về việc tạm dừng thi công xây dựng công trình lần 1 và ngày 20/11/2024 UBND xã P đã ban hành công văn 130/UBND về việc tạm dừng thi công xây dựng công trình lần 2. Ngày 23/11/2024 UBND xã P đã có biên bản làm việc với tôi và tôi có ký vào biên bản làm việc. Và ngày 27/11/2024, UBND xã P đã ban hành công văn số 132/UBND về việc dừng thi công xây dựng công trình của tôi. UBND xã P cũng đã giải thích cho tôi về việc xây nhà là trái quy định của pháp luật và có yêu cầu tôi tạm dừng xây dựng nhưng vì tức ông Trần Văn L nên tôi vẫn cứ xây cho đến đến tháng 02 năm 2025 thì tôi đã xây dựng xong nhà 2 tầng.
Tôi đề nghị Tòa án xem xét giải quyết kháng cáo của ông Đ, cháu N theo quy định của pháp luật.
Ông Trần Văn Đ và bà Lê Thị T thống nhất trình bày:
Chúng tôi nhất trí với lời khai của bà Trần Thị L1. Vợ chồng tôi không có tiền bạc công sức gì trong việc bà L1 xây nhà 2 tầng diện tích 48m² mà chúng tôi chỉ đồng ý và tạo điều kiện để bà L1 xây dựng vì thửa đất đang hoàn toàn là do vợ chồng chúng tôi quản lý.
Trên phần đất 309,6m² mà bản án số 78/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì chia thừa kế cho ông L có một ngôi nhà cấp 4, lợp mái ngói, cửa gỗ, nền lát gạch đỏ. Vì đã quá cũ nát nên vợ chồng chúng tôi (Trần Văn Đ và Lê Thị T) đã phá đi vào khoảng tháng 2 hoặc tháng 3 năm 2025. Việc phá dỡ sau khi bà L1 đã xây dựng xong ngôi nhà 48m²
Ông Trần Văn Đ trình bày: Tôi vẫn giữ nguyên kháng cáo của tôi và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết kháng cáo của tôi theo quy định của pháp luật.
*Tại đơn trình bày ngày 21/5/2025 và Biên bản lấy lời khai ngày 25/5/2025, ông Trần Văn L trình bày:
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế của giữa tôi và ông Trần Văn Đ, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã ra bản án số 78/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 đã phân chia cho tôi diện tích 309,6m2.
Sau đó ông Trần Văn Đ, anh Trần Văn N kháng cáo và Tòa án thành phố Hà Nội đang thụ lý theo thủ tục phúc thẩm.
Trong quá trình Tòa án thành phố Hà Nội đang thụ lý thì ông Trần Văn Đ và bà Trần Thị L1 đã xây dựng nhà 2 tầng khoảng 48m² nằm hoàn toàn trên phần đất 309,6m² mà tôi được Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã phân chia thừa kế cho tôi trong bản án sơ thẩm. Căn nhà 2 tầng 48m² này không nằm trên phần đất mà Tòa án huyện B đã chia thừa kế cho ông Đ và bà L1.
Quá trình xây dựng ngày 18/11/2024 UBND xã P có công văn số 126/UBND về việc tạm dừng thi công xây dựng công trình lần 1 và ngày 20/11/2024 UBND xã P đã ban hành công văn 130/UBND về việc tạm dừng thi công xây dựng công trình lần 2. Ngày 23/11/2024, UBND xã P đã có biên bản làm việc với bà Trần Thị L1. Và ngày 27/11/2024 UBND xã P đã ban hành công văn số 132/UBND về việc dừng thi công xây dựng công trình.
Mặc dù đã có văn bản của UBND xã P về việc tạm dừng, dừng thi công nhưng bà L1 tiếp tục thi công xây dựng đến khoảng tháng 01 năm 2025 thì xong.
Tôi đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên việc chia thừa kế đất như bản án số 78/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì. Đối với diện tích nhà 2 tầng 48m2 do bà Trần Thị L1 xây trái phép trên diện tích đất mà bản án sơ thẩm đã chia cho tôi, tôi đề nghị tòa án cấp phúc thẩm có bản án buộc bà Trần Thị L1 phải phá dỡ toàn bộ diện tích nhà 2 tầng 48m2 xây trái phép trên diện tích đất tôi được giao.
Tôi kính đề nghị Tòa án thành phố Hà Nội giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Theo biên bản xác minh ngày 27/5/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, UBND xã P cho biết: “Sau khi Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế giữa ông Trần Văn L và ông Trần Văn Đ, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã ra bản án số 78/2024/DS-ST ngày 21/08/2024. Sau đó ông Trần Văn Đ và ông Trần Văn N kháng cáo và Tòa án thành phố Hà Nội đang thụ lý theo thủ tục phúc thẩm.
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm, khi Tòa án thành phố Hà Nội đang thụ lý vụ án phúc thẩm (do ông Đ, ông N kháng cáo) thì bà Trần Thị L1 đã xây nhà 2 tầng diện tích 48m² (Theo ông Trần Văn L trình bày thì nhà hai tầng này nằm trong diện tích 309,6m² tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 3, thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội mà bản án sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì chia cho ông Trần Văn L).
Ủy ban nhân dân xã P có ý kiến về sự việc này như sau: Khi bà Trần Thị L1 đã làm xong móng và xây cao khoảng 1m thì ngày 18/11/2024 UBND xã P có công văn số 126/UBND về việc tạm dừng thi công xây dựng công trình lần 1(đối với ông Trần Văn Đ vì ông Đ đang quản lý nhà đất) và và ngày 20/11/2024 UBND xã P đã ban hành công văn 130/UBND về việc tạm dừng thi công xây dựng công trình lần 2. Ngày 23/11/2024, UBND xã P đã có biên bản làm việc với bà Trần Thị L1 và bà L1 có ký vào biên bản làm việc. Và ngày 27/11/2024 UBND xã P đã ban hành công văn số 132/UBND về việc dừng thi công xây dựng công trình của bà L1. UBND xã P cũng đã giải thích cho bà Trần Thị L1 về việc xây nhà là trái quy định của pháp luật và có yêu cầu bà L1 tạm dừng xây dựng nhưng sau đó bà Trần Thị L1 vẫn cố tình xây thành nhà hai tầng như tòa án đã xem xét thẩm định tại chỗ.
Ủy ban nhân dân xã P và Chính quyền địa phương cũng chưa lập biên bản vi phạm hành chính, chưa xử phạt vi phạm hành chính đối với việc bà Trần Thị L1 xây dựng nhà hai tầng trên diện tích đất đang tranh chấp và không có giấy phép xây dựng vì vụ án phúc thẩm đang do Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết.
Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội khi ra bản án phúc thẩm thì cũng tuyên trong bản án dân sự phúc thẩm buộc bà Trần Thị L1 phải có trách nhiệm tự phá dỡ diện tích nhà hai tầng trên diện tích đất đang tranh chấp và không có giấy phép xây dựng”.
*Theo đơn đề nghị chia di sản theo hộ gia đình ngày 29/5/2025 của chị Trần Thị T1 có nội dung:
Tôi sinh ra và lớn lên và có hộ khẩu tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03 tại thôn P, xã P, huyện B, Hà Nội. Vào thời điểm năm 2000 (thời điểm cụ P làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất và sổ mục kê năm 2000) và năm 2004 (thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ gia đình) tôi vẫn đang sinh sống và có hộ khẩu tại thửa đất trên. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa tôi vào tham gia tố tụng là ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của tôi. Tôi cũng có đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm đưa tôi vào tham gia tố tụng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
* Theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 27/5/2025 và theo bản vẽ hiện trạng do Công ty cổ phần P1 thể hiện: Có 01 ngôi nhà 02 tầng do bà Trần Thị L1 xây dựng sau khi Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm; diện tích mặt bằng 54,6m2 được xây dựng trên diện tích đất mà bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã chia cho ông Trần Văn L và ông Trần Văn Đ (Phần nhà hai tầng là 14m2 trên diện tích đất chia cho ông Đ và phần nhà hai tầng là 40,6m2 trên diện tích đất chia cho ông L). Ngoài ra, sau khi bà L1 xây xong nhà 02 tầng thì ông Đ, bà T đã phá bỏ phần lớn nhà cấp 4 mái ngói xây năm 1976, hiện chỉ còn 01 gian lợp Proximang để làm chuồng gà có diện tích: 14,2m2. Ngoài ra, các công trình xây dựng khác vẫn giữ nguyên như Biên bản xem xét thẩm định của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì. Hiện trên diện tích nhà đất đang tranh chấp có ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T, anh Trần Văn N, chị Hà Thị T2 đang sinh sống. Ngoài ra, từ tháng 02/2025 chị Trần Thị T1 (con ông Đ, bà T) và cháu Trần Thị Thu H2, sinh năm 2012 (con chị T1) cũng về ở cùng trên đất này.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
*Ông Trần Văn Đ bổ sung đơn kháng cáo: Do làm nông dân thiếu hiểu biết nên khi nhận sổ đỏ tên hộ gia đình cụ P tôi không có ý kiến yêu cầu sửa tên là hộ gia đình ông Đ vì cứ nghĩ gia đình mình phụng dưỡng mẹ cha và ăn ở ổn định từ khi cưới nhau đến nay thì cứ thế mà ở dù vẫn mang tên người bố đã khuất cụ P đại diện cho con cháu. Gia đình tôi mong anh L rút đơn khởi kiện để anh em tự thỏa thuận. Nếu anh L muốn chia thừa kế thì tôi và chị L1 đồng ý nhà thờ chung bố mẹ chính là nhà chị L1 xây dựng sau bão số 3 để thờ cúng bố mẹ. Anh em con cháu nội ngoại họ T6 tự do vào thắp hương. Vợ chồng tôi cùng các con tôi tự nguyện trả lại 1/6 giá trị đất vườn ao cho 3 anh em nhà anh L, chị L1, em Đ thừa kế của cụ P (cụ P có 1/6 giá trị đất vườn ao). Nếu anh L nhận bằng tiền thì chúng tôi sẽ trả bằng tiền cho anh L.
Ông Trần Văn Đ còn có “Đơn đề nghị chia đất ở của ông L đề ngày 05/6/2025” có nội dung: Đất giãn dân ông L đang ở là của bố mẹ ông. Đất này chia làm hai phần: một phần của ông L, một phần của ông Đ.
*Theo đơn trình bày ngày 01/6/2025, bà Trần Thị L1 đề nghị chia lại vị trí đất được hưởng thừa kế ở cạnh nhà ông Đ và trên vị trí mà bà vừa xây nhà hai tầng.
*Theo “ Đơn đề nghị chia di sản theo hộ gia đình và xem xét chia thêm diện tích đất cho gia đình chúng tôi do công sức đóng góp, làm tăng giá trị đất” của bà Lê Thị T, chị Hà Thị T2, anh Trần Văn N ngày 02/6/2025 trình bày: Vào thời điểm năm 2000 và 2004 thì gia đình chúng tôi vẫn đang sinh sống và có hộ khẩu tại thửa đất trên. Thời điểm trên thì ông P cũng đã già yếu không thể lao động, trồng cây được nên việc cấp đất cho hộ gia đình là phù hợp với quy định của pháp luật. Chúng tôi đề nghị Tòa án chia cho gia đình chúng tôi thêm diện tích đất là 50% diện tích thửa đất 221, tờ bản đồ số 3 thôn P, xã P, huyện B, Hà Nội vì vợ chồng, các con tôi có công sức đóng góp trong di sản thừa kế mà tòa án cấp sơ thẩm chỉ chia cho chúng tôi 5% diện tích đất là quá ít so với công sức đóng góp, giữ gìn và làm tăng giá trị đất.
* Hội đồng xét xử còn nhận được “Đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm ngày 21/8/2024 về tranh chấp chia thừa kế của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì” của chị Trần Thị T7, sinh năm 1988 (con ông Đ, bà T) có nội dung chính: Chị là thành viên của hộ gia đình cụ P kê khai năm 2000 và được cấp sổ đỏ ngày 29/4/2004. Năm 2000, gia đình chúng tôi có 6 nhân khẩu ăn ở thường xuyên tại đó và đang độ tuổi thuần nông được xem xét cấp 200m2 đất ở và hơn 800m2 đất nông nghiệp. Tòa án cấp sơ thẩm đã không đưa chị và chị Trần Thị T1 tham gia là ảnh hưởng đến quyền lợi của chị em chị. Bản án dân sự sơ thẩm không có tên chị T7 và chị T1 đã vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và làm mất quyền lợi của chị em chị là thành viên trong hộ gia đình cụ P năm 2000. Chị đề nghị hủy bản án sơ thẩm ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì.
*Hội đồng xét xử nhận được “Đơn đề nghị xác nhận về việc cấp đất giãn cư theo quy hoạch của UBND xã P giai đoạn 1985-1990 đề ngày 30/5/2025” của ông Trần Văn L có nội dung: “ Tôi nhập ngũ tháng 1 năm 1973, xuất ngũ năm 1976, sau tái ngũ tháng 5 năm 1979, nghỉ hưu năm 1999.
Năm 1985-1990 địa phương có chủ trương cấp đất giãn cư theo quy hoạch và đề ra tiêu chí, tiêu chuẩn được xét cấp đất giãn cư gồm có:
- Gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người có công, người tham gia kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ tổ quốc.
- Cán bộ công nhân viên chức, người lao động nghỉ hưu mất sức mà không có nhà ở.
- Các hộ gia đình cô đơn, đơn thân nuôi con, các đối tượng xã hội khác, hộ có từ hai đến ba con dâu trở lên. Đều phải làm đơn để địa phương xét duyệt theo quy định.
Đối chiếu với tiêu chuẩn và quy định trên đây tôi chưa có nhà ở thuộc diện đối tượng 1 (một). Đầu năm 1987 tôi làm đơn đề nghị UBND xã P cấp đất giãn cư theo quy hoạch, đến tháng 7 năm 1987 tôi được UBND xã P cấp đất, có thu lệ phí theo quy định diện tích là 240m2”
Đơn của ông L có xác nhận của UBND xã P do Phó chủ tịch UBND ký đóng dấu và xác nhận: “ Ông Trần Văn L có hộ khẩu thường trú tại địa phương, có đơn trình bày trên là đúng”.
*Hội đồng xét xử nhận được “Đơn đề nghị xác nhận nguồn gốc đất thổ cư và cấp GCNQSD đất đề ngày 02/4/2025” của ông Trần Văn L có nội dung: “...Nguồn gốc đất là đất thổ cư cũ của cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1. Theo hồ sơ bản đồ 299 đo vẽ năm 1986 thì thuộc tờ bản đồ số 03 diện tích 1073m2, số thửa 221 trong đó có 200m2 đất ở và 873m2 đất vườn, không có đất ao
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Trần Văn P theo chính sách của Đảng và nhà nước đầu năm 2000 cụ P đứng tên kê khai vào tờ khai đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến tháng 11/2000 cụ P chết. Căn cứ hồ sơ kê khai đề nghị cấp GCNQSD đất thì đến ngày 09/4/2004 đã được UBND huyện B cấp GCNQSD đất thổ cư tờ bản đồ số 03 diện tích 1073m2, số thửa 221 trong đó có 200m2 đất ở và 873 m2 đất vườn đứng tên chủ hộ ông Trần Văn P ( ông Trần Văn Đ nhận GCNQSD đất)”.
Đơn của ông L có xác nhận của UBND xã P do Phó chủ tịch UBND ký đóng dấu.
*Ông Trần Văn L trình bày: Tôi giữ nguyên những trình bày của mình trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, tại Tòa án cấp phúc thẩm. Tôi không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, anh N.
*Luật sư Đinh Thị Kim T3 và luật sư Đinh Anh T4 thống nhất trình bày quan điểm: Ngày 29/4/2004 hộ gia đình cụ P được cấp sổ đỏ gồm 6 nhân khẩu là cụ P và 3 con của vợ chồng ông Đ có niêm yết công khai tại xã và hồ sơ từ năm 2000 đến năm 2004 mới cấp sổ đỏ đất ở 200m2 và hơn 800m2 đất vườn ao là đúng quy trình và phù hợp với quy định của pháp luật. Thời điểm cấp sổ đỏ mang tên hộ gia đình cụ P thì ông L là trưởng thôn không có khiếu kiện gì về việc hộ gia đình cụ P được cấp sổ đỏ năm 2004. Cũng thời điểm đó (từ năm 1987 đến năm 2000) ông L cũng được cấp 1 suất đất giãn dân khoảng 200m2 (do khi cưới thì vợ chồng ông L ở cùng nhà với vợ chồng chị P và vợ chồng ông Đ nên theo quy định của pháp luật có nhiều cặp vợ chồng sống chung 1 mái nhà thì được nhà nước xét duyệt cho một suất đất giãn dân ở gần đó. Cụ P khi còn sống đã tự nguyện kê khai tài sản nguồn gốc của cụ P nhưng đồng ý đưa vào tài sản của hộ gia đình (có vợ con ông Đ) do vợ chồng ông Đ và các con ông Đ có công sức rất lớn tôn tạo đất, tăng gia sản xuất không để hoang hóa đất và đóng đầy đủ thuế đất hàng năm đồng thời là con út trực tiếp chăm sóc cha mẹ già. Vợ chồng ông Đ đã ở lại cùng các con thay nhau chăm sóc phụng dưỡng cụ P nên việc nhà nước xem xét cấp sổ đỏ cho hộ cụ P là đúng pháp luật. Nếu ông L yêu cầu chia thừa kế thì hộ gia đình có 6 thành viên khi cấp sổ đỏ thì quyền lợi của 6 thành viên như nhau nên phần di sản của cụ P là 1/6 diện tích đất ở và 1/6 diện tích đất vườn ao. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa thành viên của hộ gia đình là chị T1 và chị T7 là vi phạm nghiêm trọng làm ảnh hưởng lớn đến quyền tự định đoạt phần tài sản của công dân là quyền sử dụng đất ở và đất vườn ao đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho hộ gia đình khi đó chị T1 và chị T7 là thành viên trong gia đình có quyền tự định đoạt quyền sử dụng đất phần của mình trong hộ gia đình. Bà T cùng vợ chồng anh N và chị T2 cho rằng công sức của gia đình chồng con bà T rất lớn và yêu cầu được hưởng thành quả là 50% diện tích toàn bộ đất ở và 50% diện tích đất vườn ao là có căn cứ đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận. Việc chia thừa kế giữa bà L1 và ông L được hưởng bà L1 tự nguyện xây nhà thờ cúng cha mẹ vì thời điểm hiện nay cả gia đình ông L và ông Đ đều rất khó khăn. Cơn bão số 3 năm 2024 tàn phá nặng nề nên nhà cũ sập để đảm bảo nơi thờ cúng trang nghiêm chống được mưa bão nên bà L1 đã đứng lên xây nhà thờ ngay cạnh nhà cũ đổ sập do bão số 3, đề nghị ông L và ông Đ đồng ý. Kính đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm để xét xử lại do có vi phạm nghiêm trọng –Tòa án cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng và chưa đánh giá đúng công sức tôn tạo làm tăng giá trị sử dụng đất của vợ con ông Đ từ ao tù, sình lầy nay đổ đất san nền tôn cao đất xây dựng tường bao để chống lấn chiếm và làm tăng giá trị sử dụng đất. Đề nghị đưa phần đất giãn dân khoảng 200m2 mà ông L được cấp khi cụ P còn sống để xem xét chia trong vụ án tranh chấp chia thừa kế tài sản.
*Ông Đ, bà T, bà L1, anh N, chị T2 đều nhất trí với quan điểm mà luật sư đã trình bày.
* Ông L, ông Đ, bà L1 đều trình bày: các ông bà sinh ra, lớn lên và ở cùng bố mẹ là cụ P, cụ H1 tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội. Khi các ông bà còn nhỏ thì các ông bà đều không nhìn thấy ông bà nội do ông bà nội đã mất.
* Ông Đ và bà T thống nhất trình bày: Nếu Tòa án chia thừa kế đất tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội thì ông bà không yêu cầu bà L1 phải thanh toán tiền xây dựng tường và cây cối do ông bà tạo dựng trên diện tích đất bà L1 được chia; còn đối với ông L thì đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, anh N; tuy nhiên do phát sinh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm nên cần áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS 2015: Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Ba Vì về cách tuyên, cụ thể:
- Buộc bà Trần Thị L1 và ông Trần Văn Đ (là người đang quản lý, sử dụng đất) có trách nhiệm tự phả đỡ diện tích nhà 2 tầng trên diện tích đất tranh chấp.
- Ông Trần Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn L giá trị ngôi nhà cấp 4 (di sản trên đất) số tiền 9.991.000 đồng do ông Đ tự ý phá dỡ. Do ông Trần Văn L có nghĩa vụ thanh toán giá trị bức tường bao cho ông Trần Văn Đ số tiền 7.200.000 đồng nên đối trừ nghĩa vụ, ông Đ còn phải thanh toán cho ông L số tiền 2.791.000 đồng.
(Ông Trần Văn L không còn nghĩa vụ thanh toán với ai)
- Về án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
*Về thủ tục: Bị đơn ông Trần Văn Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn N kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận về hình thức.
*Xét kháng cáo của ông Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; anh N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Văn L có đơn khởi kiện đối với ông Trần Văn Đ về tranh chấp thừa kế tài sản; Bị đơn ông Trần Văn Đ cư trú tại xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội và tài sản tranh chấp là bất động sản tại xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân huyện Ba Vì thụ lý giải quyết vụ án sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a,c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Trần Văn P (chết ngày 01/12/2000), cụ Lê Thị H1 (chết ngày 04/9/1993). Theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì nhận định về thời hiệu: ngày 04/8/2023, ông Trần Văn L có đơn khởi kiện đến TAND huyện Ba Vì, trước đó ông L đã nhiều lần có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp tới UBND xã P. Căn cứ theo Điều 623, 688 BLDS năm 2015 vụ việc tranh chấp theo đơn khởi kiện của ông Trần Văn L nằm trong thời hạn luật định.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: trước khi Tòa nhân dân huyện B ra bản án dân sự sơ thẩm số 74/2024/DS-ST ngày 21/8/2024, không có đương sự nào yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu nên không xem xét áp dụng thời hiệu theo quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 02/6/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội nhận được thư thông báo đề ngày 30/5/2025 của ông Trương Minh H3 có nội dung không tham gia vụ án với tư cách là đại diện ủy quyền cho ông Trần Văn Đ nữa. Tại phiên tòa ông Trần Văn Đ cũng xác nhận ông H3 không còn đại diện ủy quyền cho ông Đ nữa nên Hội đồng xét xử xác định ông Trương Minh H3 đã chấm dứt tư cách đại diện ủy quyền cho ông Trần Văn Đ từ 30/5/2025.
Tại phiên tòa, ông Trần Văn Đ xuất trình Giấy ủy quyền ngày 03/6/2025 đối với chị Trần Thị T8. Giấy ủy quyền hợp pháp nên được chấp nhận.
- Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đây là phiên tòa mở lần thứ hai: Đương sự là UBND xã P vắng mặt. Do vậy, Tòa án vẫn xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Đ, anh N, hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
2.1. Về hàng thừa kế, diện thừa kế của cụ Trần Văn P, cụ Lê Thị H1:
Cụ Trần Văn P (chết ngày 01/12/2000), cụ Lê Thị H1 (chết ngày 04/9/1993) là vợ chồng và có 03 người con chung: ông Trần Văn L, sinh năm 1953; bà Trần Thị L1, sinh năm 1957; ông Trần Văn Đ, sinh năm 1962. Ngoài ra không có người con chung, con riêng, con nuôi nào khác. Bố mẹ của cụ Trần Văn P là cụ Trần Văn T5 và cụ Vũ Thị S đều đã chết từ rất lâu trước cụ P. Bố mẹ của cụ Lê Thị H1 cũng đã chết từ rất lâu trước cụ H1.
Căn cứ Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ P và cụ H1 là: ông Trần Văn L, sinh năm 1953; bà Trần Thị L1, sinh năm 1957; ông Trần Văn Đ, sinh năm 1962.
2.2. Thời điểm mở thừa kế của H1, cụ P được xác định theo ngày chết của các cụ: thời điểm mở thừa kế của cụ Lê Thị H1 là ngày 04/9/1993 (Bản sao Trích lục khai tử số 18/TLKT-BS ngày 21/7/2023 của UBND xã P, huyện B); của cụ Trần Văn P là ngày 01/12/2000 (Bản sao Trích lục khai tử số 23/TLKT-BS ngày 21/7/2023 của UBND xã P, huyện B).
2.3. Về di sản thừa kế:
Theo công văn số 08/UBND ngày 02/7/2024 của UBND xã P thể hiện nội dung: Căn cứ bản đồ đo vẽ năm 1986 (bản đồ 299) và sổ mục kê năm 2000 thì vị trí thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03 với diện tích 1.070 m² (trong đó đất ở: 200 m², đất vườn: 870 m²) ghi tên cụ Trần Văn P (là bố đẻ của ông L và ông Đ). Năm 2004, cụ Trần Văn P đã được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03 với diện tích 1.070 m² (trong đó đất ở 200 m², đất vườn 870 m²). Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó ghi: Chủ hộ ông Trần Văn P. Việc cấp GCN quyền sử dụng đất căn cứ đơn và hồ sơ xin cấp GCN quyền sử dụng đất của cụ Trần Văn P ngày 23/8/2000. Nguồn gốc thửa đất: là của cụ P và cụ H1 (vợ của cụ P).
Theo CV số 1075/UBND-TNMT ngày 19/4/2024 của Ủy ban nhân dân huyện B cung cấp hồ sơ theo văn bản số 18/CV-TA ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì có nội dung: “1. Đối với Hồ sơ cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 221, tờ bản đồ 03, xã P: Hiện nay, tại kho lưu trữ của Phòng TN và MT - UBND huyện B chỉ có các hồ sơ, tài liệu sau:
- UBND huyện B cung cấp cho Tòa án nhân dân huyện Ba Vì Quyết định số 208/QĐ-UB ngày 09/4/2004 của UBND huyện B về việc cấp GCNQSD đất cho 354 hộ sử dụng đất thổ cư tại xã P (có danh sách các hộ được cấp GCN kèm theo), trong đó có tên ông Trần Văn P tại số thứ tự 237 của danh sách.
- Đơn đăng ký quyền sử dụng đất của ông Trần Văn P có xác nhận của UBND xã, trong đó có nêu rõ nguồn gốc sử dụng đất và các thông tin của người đăng ký cấp GCNQSD đất.
- Trích tờ số 03, bản đồ 299 xã P.
(có hồ sơ, tài liệu bản pho to đóng dấu treo của Phòng TN và MT huyện B kèm theo).
Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 23/8/2000 (do UBND huyện B cung cấp) thể hiện:
- Phần kê khai: Tên chủ sử dụng đất: Trần Văn P, sinh năm 1916; Nơi thường trú: Xóm C, P, Phú C; Làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất tổng diện tích đất: 1.073m2; Tờ bản đồ số 3, thửa số 221, ; Loại đất: thổ cư; đất ở: 200m2; đất vườn: 873m2; thời hạn sử dụng: lâu dài.
- Phần ý kiến của UBND xã P do chủ tịch UBND xã ký đóng dấu ngày 15/8/2023 có nội dung: Đất thổ cư ông cha để lại, nguồn gốc rõ ràng, không tranh chấp. Đủ điều kiện, đề nghị UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đủ cơ sở xác định: Về nguồn gốc diện tích đất 1.073m², thuộc thửa số 221, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, là của cha ông của cụ Trần Văn P để lại cho cụ Trần Văn P, cụ Lê Thị H1 sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Quá trình chung sống tại thửa đất này,cụ P và cụ Hồi sinh ra các con gồm ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ. Năm 1976 cụ P, cụ H1 xây dựng được 05 gian nhà cấp 4, cùng công trình phụ trên thửa đất này. Ông L, bà L1 ở đây cho đến khi ra ở riêng còn ông Đ lấy vợ và tiếp tục ở trên phần diện tích đất này cùng với cụ P, cụ H1. Ông L, bà L1, ông Đ cũng thừa nhận các ông bà sinh ra và lớn lên trên thửa số 221, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện B. Do vậy, thửa số 221, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện B không phải là đất giãn dân cấp cho hộ gia đình của cụ P theo tiêu chuẩn hộ gia đình cụ P năm 2000 mà là đất do cha ông để lại cho cụ P, cụ H1. Ngoài đơn xin xác nhận nhân khẩu của ông Trần Văn Đ có xác nhận của cảnh sát khu vực: Hộ gia đình ông Trần Văn Đ thời điểm năm 2000 gồm ông Trần Văn Đ, sinh năm 1962 (chủ hộ); Trần Văn P, sinh năm 1914 (bố); Lê Thị T, sinh năm 1963 (vợ); Trần Thị T1, sinh năm 1986 (con); Trần Thị T7, sinh năm 1988 (con); Trần Văn N, sinh năm 1990 (con) thì ông Trần Văn Đ và gia đình ông Đ không có tài liệu nào khác xác định nguồn gốc thửa số 221, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội là của hộ gia đình.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S126171 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp 09/4/2024 cho chủ hộ: Trần Văn P được quyền sử dụng 1073m2 đất (gồm 200m2 đất ở và 873m2 đất vườn) thuộc tờ bản đồ 03, thửa số 221, xã P, huyện B, H thực chất quyền sử dụng đất là thuộc về cụ P, cụ H1 do cha ông để lại chứ không phải là của hộ gia đình như ông Đ, bà T, chị T1 đã trình bày. Do vậy, Tòa cấp phúc thẩm thấy không nhất thiết phải đưa chị Trần Thị T1, chị Trần Thị T7 tham gia tố tụng trong vụ án. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa chị T1, chị T7 tham gia tố tụng giải quyết vụ án không phải là vi phạm nghiêm trọng tố tụng nên không có căn cứ để hủy bản án dân sự sơ thẩm theo yêu cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ, chị T.
Xét yêu cầu của ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Đ tại phiên tòa, bà T có yêu cầu đề nghị HĐXX xem xét quyền lợi của những người có tên trong sổ hộ khẩu thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì đất được cấp theo hộ gia đình thì những người có tên trong sổ hộ khẩu thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được quyền lợi, được hưởng thừa kế, hộ gia đình bà T thời điểm ngày 01/01/2004 khi đó gồm: ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T, chị Trần Thị T1, chị Trần Thị T7, anh Trần Văn N. HĐXX xét thấy: Mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ gia đình cụ Trần Văn P, tuy nhiên không phải những người được đứng tên trong sổ hộ khẩu hộ gia đình thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều được chia thừa kế hay đều hưởng quyền lợi, vì nguồn gốc diện tích đất này là của cha ông của cụ Trần Văn P để lại cho cụ Trần Văn P, cụ Lê Thị H1 chứ không là phải đất cụ P, cụ H1 được cấp theo diện giãn dân thuộc chính sách của Đảng và nhà nước cấp đất giãn dân cho trường hợp hộ gia đình có đông nhân khẩu. Đây là tài sản của cụ P, cụ H1. Khi cụ P, cụ H1 chết, di sản thừa kế sẽ được phân chia cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ P, cụ H1. Do vậy những người có tên trong hộ gia đình thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất thì chỉ những ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất mới được quyền hưởng di sản, mặt khác sổ hộ khẩu do cơ quan có thẩm quyền quản lý chỉ về nhân khẩu, chứ không phải là căn cứ hay cơ sở chia thừa kế theo pháp luật, tuy nhiên khi xem xét chia di sản thừa kế, sẽ xem xét công sức đóng góp của những người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc có công sức đóng góp nếu có căn cứ chứng minh.
Xét yêu cầu của ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T về việc không đồng ý chia thừa kế là thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.073m², địa chỉ tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội vì ông Đ, bà T cho rằng khi cụ Trần Văn P còn sống thì cụ P đã cho ông Trần Văn Đ thửa đất này và thực tế ông Đ, bà T sinh sống trên thửa đất này. Nhưng ông Đ bà T chỉ xác định cụ P cho ông Đ, bà T phần diện tích đất này chỉ cho miệng chứ không có văn bản tặng cho gì. Bản thân ông Đ, bà T cũng không cung cấp được, không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh việc được cụ P cho đất. Nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của ông Đ, bà T là có căn cứ pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, theo các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, Biên bản đối chất, Biên bản hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm: Ông L, ông Đ, bà T, bà L1 đều xác định di sản thừa kế của cụ P, cụ H1 để lại là: Diện tích đất 1073m2 thuộc tờ bản đồ 03, thửa số 221, xã P, huyện B đã được cấp GCN quyền sử dụng đất cho cụ Trần Văn P ngày 09/4/2004. Trên thửa đất có 05 gian nhà cấp 4 xây năm 1976 do cụ P và cụ H1 xây dựng. Cũng không có đương sự nào yêu cầu xác định diện tích đất và nhà này là tài sản của hộ gia đình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đủ cơ sở xác định Quyền sử dụng diện tích đất 1073m2 thuộc tờ bản đồ 03, thửa số 221, xã P và 05 gian nhà cấp 4 xây năm 1976 do cụ P và cụ H1 xây dựng trên thửa đất đều là di sản thừa kế do cụ Trần Văn P, cụ Lê Thị H1 để lại. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Đ về yêu cầu xác định diện tích đất 1073m2 thuộc tờ bản đồ 03, thửa số 221, xã P là tài sản chung của hộ gia đình và di sản của cụ P chỉ là 1/6 diện tích đất ở và 1/6 diện tích đất vườn ao.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Văn Đ còn có “Đơn đề nghị chia đất ở của ông L đề ngày 05/6/2025” có nội dung: Đất giãn dân ông L đang ở là của bố mẹ ông. Đất này yêu cầu chia làm hai phần: một phần của ông L, một phần của ông Đ. Về yêu cầu này của ông Đ, hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông Đ trình bày không có yêu cầu gì về diện tích đất giãn dân ông L đang ở và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông L nên nội dung kháng cáo này của ông Đ không được xem xét tại cấp phúc thẩm. Sau này, ông Đ nếu yêu cầu và có căn cứ pháp luật thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Xét yêu cầu của ông Trần Văn L về việc đề nghị Tòa án phân chia di sản thừa kế là thửa đất số 03, số thửa 220 với diện tích 241 m² (đo đạc thực tế theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27/5/2025 là 210,2m2) tại thôn P. HĐXX xét thấy: Đối với đất thầu là thửa đất số 03, số thửa 220 với diện tích 241 m² tại thôn P: Năm 1993, HTX nông nghiệp thôn P có biên bản hợp đồng đấu thầu đất cho cụ Trần Văn P (biên bản hợp đồng đấu thầu đất số 01/BB-HĐ ngày 01 tháng 01 năm 1993) với thời hạn giao thầu là 30 năm để sản xuất nông nghiệp. Đến nay đã được 31 năm (đã hết thời hạn hợp đồng). Diện tích đất này là đất sản xuất nông nghiệp, do HTXNN giao thầu đất là không đúng thẩm quyền, phần diện tích đất giao thầu này là đất nông thuộc thẩm quyền xử lý của cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai. Như vậy, không phải là di sản thừa kế của cụ P, cụ H1 để lại. Do vậy Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì không chấp nhận yêu cầu này của ông L là có căn cứ, đúng pháp luật.
2.4. Về bản di chúc ngày 09/4/1998: Xét yêu cầu của ông Trần Văn L về việc đề nghị Tòa án công nhận bản di chúc ngày 09/4/1998 và yêu cầu chia thừa kế theo di chúc. HĐXX phúc thẩm xét thấy: Về hiệu lực của bản di chúc ngày 09/4/1998: Ông L đề nghị công nhận di chúc. Ông Đ, bà L1 không công nhận di chúc. Di chúc thể hiện cụ P có lập di chúc, có người làm chứng thể hiện ý chí của cụ P. Tuy nhiên cụ H1 đã chết năm 1993 (chết trước cụ P), việc cụ P tự định đoạt toàn bộ tài sản, trong đó di sản thừa kế của cụ H1 mà không có sự đồng ý của hàng thừa kế thứ nhất của cụ H1 là không đúng quy định. Mặt khác tài sản là di sản thừa kế của cụ H1 và cụ P chưa được chia tách cụ thể, do vậy cụ P định đoạt cả phần di sản của cụ H1 chia cho ông L, ông Đ đã làm mất quyền lợi được hưởng phần di sản thừa kế của bà L1 đối với cụ H1. Hơn nữa, tiêu đề di chúc ngày 09/4/1998 là “Gi chúc phân chia tài sản, đất đai” nhưng trong nội dung di chúc không có bất kỳ dòng nào thể hiện ý chí của cụ P về việc phân chia tài sản “sau khi cụ P chết” theo quy định tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 1995, mà chỉ thể hiện việc cụ P phân chia tài sản là đất đai cho hai con là ông L và ông Đ; bản di chúc không thể hiện địa chỉ đất đai được phân chia địa chỉ thôn, xã, huyện nào. Nên văn bản chỉ có tiêu đề là “Gi chúc” nhưng nội dung lại chia tài sản ngay khi người để lại di sản còn sống sẽ “không phải là di chúc” được quy định trong Bộ luật dân sự. Sau đó, trên thực tế, khi cụ P còn sống và đến khi cụ P chết cũng chưa ai thực hiện nội dung văn bản có tiêu đề là “Gi chúc” nhưng lại có nội dung phân chia đất này. Tại tòa án cấp phúc thẩm, ông Trần Văn L cũng thừa nhận di chúc không hợp pháp và yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ P, cụ H1 là 1073m2 đất (gồm 200m2 đất ở và 873m2 đất vườn) thuộc tờ bản đồ 03, thửa số 221, xã P, huyện B theo quy định của pháp luật. Do vậy, bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì không công nhận bản di chúc và xác định bản di chúc ngày 09/4/1998 của cụ Trần Văn P không hợp pháp là phù hợp với quy định tại Điều 649, 656, 676 Bộ luật Dân sự 1995. Do vậy yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc của ông L không được chấp nhận. Do bản di chúc không hợp pháp nên hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.
2.5. Xét yêu cầu của ông L về việc nếu xác định di chúc không hợp pháp thì đề nghị chia di sản thừa kế của cụ P, cụ H1 theo quy định của pháp luật; xét nội dung kháng cáo của ông Đ, anh N về công sức đối với thửa đất số 221, xã P, huyện B.
Như đã phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định di sản thừa kế của cụ P và cụ H1 gồm có:
- Thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.073m², có địa chỉ tại: Thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, đã được cấp GCN quyền sử dụng đất mang tên chủ hộ Trần Văn P, ngày 09/4/2004 có giá trị 5.365.000.000 đồng.
- Tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4 xây dựng năm 1976, lợp mái ngói, cửa gỗ, nền lát gạch đỏ do cụ P và cụ H1 xây dựng có giá trị 9.991.000 đồng. Nhà này, ông Đ và bà T đã phá dỡ sau khi xét xử sơ thẩm và hiện chỉ còn một gian 14,2m2.
Tổng giá trị di sản là 5.374.991.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 650, 651, 660 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn L đối với di sản nêu trên của cụ P và cụ H1. Di sản của cụ P và cụ H1 sẽ được chia cho ba người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của các cụ là: Ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ. Bản án dân sự sơ thẩm xác định mỗi kỷ phần (sau khi trừ 65,7m2 đất làm lối đi chung) là 318,9m2 nhưng lại nhận định do ông Đ, bà T có công sức tôn tạo, bảo quản di sản thừa kế nên cho ông Đ được hưởng kỷ phần nhiều hơn các kỷ phần thừa kế khác là chưa chính xác mà phải xác định đây là công sức ông Đ được hưởng, còn kỷ phần thừa kế được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ P, cụ H1 là như nhau. Việc bản án sơ thẩm cắt 65,7 m2 đất làm lối đi chung (của diện tích đất ông Đ được giao và diện tích đất bà L1 được giao) là phù hợp với thực tế sử dụng đất và đúng pháp luật. (Theo sơ đồ phân chia đất của bản án phúc thẩm; Diện tích ngõ đi chung 65,7m2 được xác định bởi các điểm 5, 6, 7, 8, 22, 21, 5. Kích thước từ 5 đến 6 là 28,43m; từ 6 đến 7 là 3,31m; từ 7 đến 8 là 3,95m; từ 8 đến 22 là 3,41m; từ 22 đến 21 là 34m; từ 21 đến 5 là 1,64m). Gia đình ông Đ, bà L1 sử dụng lối đi chung này để đi ra lối đi là đất công 22,3m2 (được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 21, 20, 3) rồi đi ra đường giao thông. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định mỗi kỷ phần thừa kế là quyền sử dụng đất 309,6m2. Như vậy, ông Đ, ông L, bà L1 mỗi người được hưởng một kỷ phần quyền sử dụng đất 309,6m2 có giá trị: 1.548.000.000 đồng + một kỷ phần giá trị xây dựng nhà cấp 4 (9.991.000 đồng : 3) = 1.551.330.333 đồng.
Diện tích đất còn lại: 1.073m2 – 65,7m2 – (309,6m2 x 3) = 78,5m2 (tương đương 7,31% tổng diện tích đất) được xác định là công sức của ông Đ, bà T trong việc lấp ao, tôn tạo đất. Như vậy, hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đ về việc xác định công sức của ông Đ, bà T là: 78,5m2 đất có giá trị: 392.500.000 đồng. Diện tích đất ông L được chia di sản và công sức cộng lại là: 388,1m2 có giá trị: 1.940.500.000 đồng. Di sản thừa kế của cụ P, cụ H1 sau khi trừ đi diện tích ngõ đi và trừ đi công sức của ông Đ, bà T là: Quyền sử dụng đất 928,8m2 tại địa chỉ: Thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội và giá trị xây dựng nhà cấp bốn xây dựng năm 1976, lợp mái ngói, cửa gỗ, nền lát gạch đỏ: 9.991.000 đồng.
Xét kháng cáo của anh N yêu cầu xác định công sức của anh và vợ anh là chị T2: Xét yêu cầu của anh Trần Văn N, chị Hà Thị T2 về việc xem xét công sức đóng góp trong việc đổ đất đổ đất lấp ao, tôn vườn, xây tường bao, san nền...với số tiền 200.000.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm, anh N và chị T2 không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho việc có công sức san đổ đất lấp ao, san nền. Anh N sinh năm 1990, chị T2 sinh năm 1995; ông Đ khai lấp ao năm 2000 nên không có cơ sở xác định anh N và chị T2 có công sức lập ao. Mặt khác khi anh N, chị T2 có yêu cầu xem xét công sức đóng góp, Tòa án cấp sơ thẩm ra văn bản thông báo yêu cầu anh N, chị T2 phải làm đơn yêu cầu độc lập và thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí với yêu cầu độc lập của mình, nhưng anh N, chị T2 không thực hiện. Do vậy yêu cầu kháng cáo này của anh N, chị T2 không được chấp nhận.
Việc giao quyền sử dụng đất theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì là hợp lý và phù hợp với thực tế hiện trạng sử dụng đất nên hội đồng xét xử phúc thẩm về cơ bản giữ nguyên việc giao đất như bản án dân sự sơ thẩm nhưng cần sửa lại tỷ lệ đất ở và đất vườn cho đúng. Mặt khác, do sau khi xét xử sơ thẩm: ông Đ, bà T đã phá nhà cấp 4 và chỉ còn lại một phần có diện tích 14,2m2 nên cần phân chia lại nghĩa vụ thanh toán đối với di sản thừa kế là giá trị xây dựng nhà cấp 4 cũng như xác định lại số tiền cây cụ thể mà ông L phải thanh toán trả cho ông Đ. Cụ thể việc phân chia di sản bằng hiện vật và thanh toán giá trị như sau:
- Giao cho ông Trần Văn L được quyền sử dụng diện tích đất 309,6m² thuộc thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội (Trong đó có 61,47m2 đất ở; 248,13m2 đất vườn) có giá trị 1.548.000.000 đồng và gian nhà cấp 4 còn lại có giá trị: 14,2m2 x 2.351.000 đồng/m2 x 5% = 1.669.210 đồng. So với kỷ phần giá trị xây dựng ông L được hưởng thì ông Đ do phá nhà cũ nên còn phải thanh toán cho ông L giá trị xây dựng: 3.330.333 đồng - 1.669.210 đồng = 1.661.123 đồng. Diện tích đất ông L được giao được giới hạn bởi các điểm 14, 15, 16, 17, 18, 19, 23, 14 (là thửa 221-2 theo sơ đồ kèm theo bản án). Kích thước từ 14 đến 15 là 13,34m; từ 15 đến 16 là 8,74m; từ 16 đến 17 là 7,96m; từ 17 đến 18 là 3m; từ 18 đến 19 là 5,87m; từ 19 đến 23 là 31,80m; từ 23 đến 14 là 11,80m.
Tạm giao cho ông Trần Văn L được sử dụng diện tích 33,5m2 (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 18, 17, 1) làm lối đi ra đường giao thông, tại thửa đất số 220, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội cho đến khi cơ quan nhà nước có quyết định thu hồi hoặc quyết định khác (Kích thước từ 1 đến 2 là 3m; từ 2 đến 18 là 11,12m; từ 18 đến 17 là 3m; từ 17 đến 1 là 11,44m). Ông Trần Văn L được quyền sở hữu tường bao trên trên phần lối đi 33,5m2 tại thửa đất số 220, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội và có nghĩa vụ thanh toán giá trị bức tường bao cho ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T số tiền là 7.200.000 đồng; diện tích tường quây chuồng gà: 5,8m2 x 676.000 đồng/m2 x 30 % = 1.176.240 đồng.
Ông L được sở hữu cây trên diện tích đất được chia và được tạm giao gồm:
- 04 cây bưởi Φ 10 x 150.000 đồng/1 cây = 600.000 đồng
- 01 cây ổi Φ 50 có giá trị: 500.000 đồng
- 04 bụi chuối có giá trị: 200.000 đồng
- 01 cây mít Φ 50 có giá trị: 800.000 đồng
- 01 cây mít Φ 20 có giá trị: 300.000 đồng
Tổng giá trị cây: 2.400.000 đồng
Đối trừ nghĩa vụ thanh toán: Ông L còn phải thanh toán trả ông Đ: (7.200.000 đồng + 1.176.240 đồng +2.400.000 đồng) -1.661.123 đồng = 10.776.240 đồng.
Ông Trần Văn L có quyền tự tháo dỡ diện tích tường bao và cây cối được sở hữu trên diện tích đất 33,5m2 được tạm giao để sử dụng làm lối đi ra đường giao thông.
- Giao cho bà Trần Thị L1 được quyền sử dụng diện tích đất 309,6m2 thuộc thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội (Trong đó có 61,47m2 đất ở; 248,13m2 đất vườn), có giá trị 1.548.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bà Trần Thị L1 được hưởng thừa kế:1.548.000.000đ + 3.330.333 đồng = 1.551.330.333 đồng.
Ông Đ phải thanh toán trả bà L1 giá trị nhà cấp 4 là di sản thừa kế do ông Đ, bà T phá dỡ: 3.330.333 đồng.
Bà Trần Thị L1 được sở hữu cây trồng, tường bao do ông Đ và bà T tạo dựng trên diện tích đất bà L1 được giao. Trong đó có: 25 cây bưởi Φ 5cm; 36 cây bưởi Φ 10cm; 05 cây mít Φ 10cm; 01 cây mít Ф 60 cm.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đ, bà T không yêu cầu bà L1 thanh toán tiền giá trị tường bao, cây do ông Đ, bà T tạo dựng trên diện tích đất bà L1 được giao. Diện tích đất bà L1 được giao được giới hạn bởi các điểm 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 23, 22, 8 (Là thửa 221-3 theo sơ đồ kèm theo bản án). Kích thước từ 8 đến 9 là 6,94m; từ 9 đến 10 là 14,76m; từ 10 đến 11 là 8,96m; từ 11 đến 12 là 6,98m; từ 12 đến 13 là 6,32m; từ 13 đến 14 là 16,13m; từ 14 đến 23 là 11,80m; từ 23 đến 22 là 12,85m; từ 22 đến 8 là 3,41m.
- Giao cho ông Trần Văn Đ được quyền sử dụng diện tích đất 388,1m² thuộc thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội (Trong đó có 77,06m² đất ở, 311,04 m2 đất vườn) có giá trị 1.940.500.000 đồng. (Diện tích đất ông Đ được giao được giới hạn bởi các điểm 19, 20, 21, 22, 23, 19 được ký hiệu trong sơ đồ phân chia kèm theo bản án là thửa 221-1).
Ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T được sở hữu tài sản trên diện tích đất được giao gồm 01 nhà 02 tầng xây dựng năm 2023 và cây do ông Đ, bà T tạo dựng.
Ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị L1 được sử dụng chung lối đi 65,7m2 giới hạn bởi các điểm 5, 6, 7, 8, 22, 21, 5 được xác định là lối đi chung của diện tích đất được giao cho ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị L1.
- Ông Trần Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán trả bà Trần Thị L1 kỷ phần di sản thừa kế là giá trị nhà cấp 4 (đã tháo dỡ): 3.330.333 đồng.
Đối trừ các nghĩa vụ phải thanh toán giá trị di sản là nhà cấp 4 do ông Đ, bà T tháo dỡ với nghĩa vụ phải thanh toán giá trị tường bao, cây ông L được sở hữu trên diện tích đất được giao: Ông Trần Văn L phải thanh toán trả ông Trần Văn Đ số tiền: 10.776.240 đồng.
Buộc bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T có nghĩa vụ tự tháo dỡ diện tích nhà 2 tầng 50,6m2 được xây dựng trên thửa đất 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội (được giới hạn bởi các điểm a, b, c, d, e, f, a theo sơ đồ kèm theo bản án).
Các đương sự được giao quyền sử dụng đất có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà đất có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo quyết định bản án đồng thời có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Do vậy, hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn Đ, không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Văn N và sửa bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DSST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì như phân tích trên.
[3] Về chi phí tố tụng: chi phí thẩm định, định giá tài sản, đo hiện trạng thửa đất tranh chấp, phía nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ và không yêu cầu gì khác.
[4] Về án phí: Ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Văn Đ, anh Trần Văn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tại phiên tòa về cơ bản là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 148, Điều 184, Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 649, 656, 676 Bộ luật dân sự năm 1995.
- Các Điều 3, 11, 14, 163, 164, 169, 174, 611, 612, 613, 614, 623, 650, 651, 660, 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Các Điều 167, 170 Luật đất đai năm 2013;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn Đ. Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Văn N. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn L đối với bị đơn ông Trần Văn Đ về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1.
- Xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Lê Thị H1 là 04/9/1993; của cụ Trần Văn P là 01/12/2000.
- Xác định Bản di chúc ngày 09/4/1998 của cụ Trần Văn P là di chúc không hợp pháp.
- Xác định quyền sử dụng thửa đất số 220, tờ bản đồ 03; diện tích hiện trạng thực tế là 187,7m2 tại thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội không phải là di sản thừa kế của cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1.
- Xác định di sản thừa kế của cụ Trần Văn P và cụ Lê Thị H1 là quyền sử dụng thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.073m2 tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chủ hộ Trần Văn P do UBND huyện B cấp ngày 09/4/2004 có giá trị 5.365.000.000 đồng và giá trị xây dựng 01 nhà cấp 4 xây dựng năm 1976, có giá trị: 9.991.000 đồng. Tổng giá trị di sản là 5.374.991.000 đồng.
- Xác định công sức tôn tạo, quản lý đất của ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T là quyền sử dụng đất 78,5m2 thuộc thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội.
- Cắt phần diện tích đất 65,7m2 giới hạn bởi các điểm 5, 6, 7, 8, 22, 21, 5 làm lối đi chung của diện tích đất giao cho ông Trần Văn Đ (thửa đất số 221-1) và diện tích đất giao cho bà Trần Thị L1 (thửa đất số 221-3). (Có sơ đồ kèm theo bản án)
- Xác định di sản còn lại của cụ Lê Thị H1 và cụ Trần Văn P (sau khi trừ đi diện tích lối đi chung và công sức của ông Đ, bà T) là quyền sử dụng đất 928,8m2 tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội; có giá trị 4.644.000.000 đồng và giá trị xây dựng 01 nhà cấp 4 xây dựng năm 1976, có giá trị 9.991.000 đồng.
- - Chia thừa kế Quyền sử dụng đất 928,8m2 tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội cho ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ mỗi người một kỷ phần là quyền sử dụng đất 309,6m2 có giá trị 1.548.000.000 đồng.
- - Chia thừa kế là giá trị xây dựng nhà cấp 4 xây dựng năm 1976 có giá trị 9.991.000 đồng cho ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ mỗi người một kỷ phần có giá trị: 3.330.333 đồng (nhà cấp bốn ông Đ, bà T đã phá dỡ còn lại 01 gian diện tích 14,2m2).
- Giao hiện vật và thanh toán giá trị tài sản:
- - Giao cho ông Trần Văn L được quyền sử dụng diện tích đất 309,6m2 của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội (Trong đó có 61,47m2 đất ở; 248,13m2 đất vườn), có giá trị 1.548.000.000 đồng (Diện tích đất giao cho ông L được giới hạn bởi các điểm 14, 15, 16, 17, 18, 19, 23, 14 được ký hiệu trong sơ đồ phân chia kèm theo bản án là thửa 221-2). Ông Trần Văn L được sở hữu các công trình và cây trên đất gồm: 01 gian nhà cấp 4 diện tích 14,2m2 có giá trị 1.669.210 đồng; diện tích tường quây chuồng gà 5,8m2 có giá trị 1.176.240 đồng; 04 cây bưởi Φ 10 có giá trị 600.000 đồng; 01 cây ổi Φ 50 có giá trị 500.000 đồng; 04 bụi chuối có giá trị 200.000 đồng.
- - Tạm giao cho ông Trần Văn L được sử dụng diện tích 33,5m2 (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 18, 17, 1) của thửa đất số 220, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội để làm lối đi ra đường giao thông cho đến khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ông Trần Văn L được quyền sở hữu tường bao có giá trị 7.200.000; 01 cây mít Φ 50 có giá trị 800.000 đồng đồng; 01 cây mít Φ 20 có giá trị 300.000 đồng trên diện tích đất được tạm giao 33,5m2 tại thửa đất số 220, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội.
- Ông Trần Văn L có quyền tự tháo dỡ diện tích tường bao và cây trồng được sở hữu trên diện tích đất 33,5m2 được tạm giao để sử dụng làm lối đi ra đường giao thông.
- - Giao cho bà Trần Thị L1 được quyền sử dụng diện tích đất 309,6m2 của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội (Trong đó có 61,47m2 đất ở; 248,13m2 đất vườn), có giá trị 1.548.000.000 đồng (Diện tích đất giao cho bà L1 được giới hạn bởi các điểm 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 23, 22, 8 được ký hiệu trong sơ đồ phân chia kèm theo bản án là thửa 221-3).
- Bà Trần Thị L1 được sở hữu tường bao, tường quây chuồng gà do ông Đ, bà T xây dựng và cây trồng trên diện tích đất được giao. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T không yêu cầu bà L1 thanh toán tiền giá trị xây tường, cây trồng do ông Đ, bà T tạo dựng trên diện tích đất bà L1 được giao.
- - Giao cho ông Trần Văn Đ được quyền sử dụng diện tích đất 388,1m2 của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội (Trong đó có 77,06m2 đất ở, 311,04 m2 đất vườn), có giá trị 1.940.500.000 đồng. (Diện tích đất ông Đ được giao được giới hạn bởi các điểm 19, 20, 21, 22, 23, 19 được ký hiệu trong sơ đồ phân chia kèm theo bản án là thửa 221-1).
- Ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T được sở hữu tài sản trên diện tích đất được giao gồm 01 nhà 02 tầng xây dựng năm 2023 và cây do ông Đ, bà T tạo dựng.
- Ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị L1 được sử dụng chung lối đi 65,7m2 giới hạn bởi các điểm 5, 6, 7, 8, 22, 21, 5 được xác định là lối đi chung của diện tích đất được giao cho ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị L1.
- - Ông Trần Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán trả bà Trần Thị L1 kỷ phần di sản thừa kế là giá trị nhà cấp 4 (đã tháo dỡ): 3.330.333 đồng.
- Đối trừ các nghĩa vụ phải thanh toán giá trị di sản là nhà cấp 4 do ông Đ, bà T tháo dỡ với nghĩa vụ phải thanh toán giá trị tường bao, cây ông L được sở hữu trên diện tích đất được giao: Ông Trần Văn L phải thanh toán trả ông Trần Văn Đ số tiền: 10.776.240 đồng.
- Buộc bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T có nghĩa vụ tự tháo dỡ diện tích nhà 2 tầng 50,6m2 được xây dựng trên thửa đất 221, tờ bản đồ số 03, thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội (được giới hạn bởi các điểm a, b, c, d, e, f, a theo sơ đồ kèm theo bản án).
- Các đương sự được giao quyền sử dụng đất có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà đất có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo quyết định bản án đồng thời có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý đất đai.
- Về án phí: Ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ, bà Lê Thị T được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trần Văn Đ, anh Trần Văn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Thị H1 và cụ Trần Văn P là: Ông Trần Văn L, bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Đ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Anh |
Bản án số 415/2025/DS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 415/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Văn L đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn P
