|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 415/2024/HS-PT
Ngày 30 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Quyên |
| Các thẩm phán: | Ông Trần Nam Phương |
| Bà Lê Thị Ký |
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 285/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo Trần Nguyễn Tuyết Trinh do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2024/HSST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Trần Tuyết T, sinh 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: 939/34, K, khu phố 1, phường, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tài xế grab; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành Rơ Ni và bà Trần Thị Trừ; chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/02/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L.
Người bào chữa cho bị cáo:
- Luật sư Nguyễn Quốc C – Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV Q thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: 308/4 L, hẻm 308, tổ 20, khu V, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Luật sư Vy Thị Nh- Công ty Luật TNHH MTV V; địa chỉ: Lô R, đường D4, khu phố 07, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Trong vụ án còn có bị hại không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trần Tuyết Tr làm nghề tài xế chạy xe Grab mô tô biển số 59X3-713.76. Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 22/12/2023, khi T đang đứng ở khu vực ngã ba Sáu Đúng thuộc xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai để chờ khách thì Công ty Grab phát tín hiệu thông báo đón khách đi từ vòng xoay cổng khu công nghiệp L đến ấp 3, xã T, huyện L với giá 28.000 đồng. T nhận chuyến rồi điều khiển xe mô tô trên đi đến khu vực vòng xoay cổng khu công nghiệp L để đón khách. Đến nơi, T đứng chờ khoảng 10 phút thì khách đặt Grab là anh Ngô Văn M nhắn tin cho T nói sẽ trả 30.000 đồng và nói T gọi vào số điện thoại 0336.245.xxx để đón khách. Sau đó, T gọi điện thoại vào số điện thoại trên thì gặp bà Ngô Thị T, bà T nói T đến chỗ bà T, nhưng T tìm không thấy nên quay lại vòng xoay khu công nghiệp L đứng đợi. Khi T đang chuẩn bị điều khiển xe mô tô đi thì bà T đi bộ lại chỗ T và lên xe của T. Lúc này, bà T nói T chở đi về hướng đường khu công nghiệp L, T nói bà T giá tiền trên ứng dụng là 30.000 đồng và bà T phải trả thêm 15.000 đồng tiền công đi tìm và chờ bà T, tổng cộng là 45.000 đồng. Nghe vậy, bà T không đồng ý, nên T yêu cầu bà T xuống xe và nói nếu không đi hết chuyến xe thì trả 30.000 đồng tiền cước ban đầu nên bà T đã xuống xe tại khu vực đường số 1, khu công nghiệp L gần cổng Công ty quốc tế K và nói do chưa đến địa điểm theo thỏa thuận ban đầu nên bà T không đồng ý trả cước 30.000 đồng cho T, hai bên xảy ra cự cãi thì T nói “ Tôi cúng cô hồn cho bà đó” và điều khiển xe bỏ đi.
Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang điều khiển xe mô tô đi đến gần cổng khu công nghiệp Lo thì ứng dụng Grab phát tín hiệu báo cho T đón khách từ vòng xoay cổng khu công nghiệp L đi ấp 3, xã T, T liên hệ với khách đặt Grab thì biết khách là bà T nên T không gọi lại cho bà T mà chạy xe thẳng đến cổng Công ty quốc tế K để gặp bà T. Tr nói với bà Tân “Bà rảnh lắm hả, sao không đi mà phá cuốc của tôi”, bà T nói với T, bà T không đặt nên không biết. Sau đó, T tiếp tục đòi số tiền 30.000 đồng lúc đầu đã chở bà T đi thì bà T không đồng ý và nói đưa đến đúng địa điểm thì bà T sẽ trả số tiền 30.000 đồng đã đặt trước đó nên T và bà T tiếp tục cự cãi nhau. T xông vào dùng tay phải đang cầm chìa khóa xe đánh vào vùng mặt bà T thì bà T dùng tay đánh lại nên cả hai xảy ra xô xát, đánh nhau được khoảng 01 phút thì bà T sợ bỏ chạy vào chốt bảo vệ Công ty K. Cùng lúc này, T thấy 01 túi vải màu đen của bà T để lại trên vỉa hè gần đó nên nảy sinh ý chiếm đoạt tài sản, T liền lấy túi của bà T treo lên xe mô tô rồi điều khiển xe đi về hướng cổng khu công nghiệp L, bà T thấy T lấy túi xách của mình nhưng sợ không dám đến giữ lại, mà lên tiếng tri hô. Sau khi lấy túi xách trên, T điều khiển xe đi đến suối Nước Trong thuộc xã A, huyện Lo dừng xe kiểm tra thì thấy trong túi của bà T gồm 01 ví màu nâu trong ví có số tiền 280.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 04 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng) 01 căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng Agribank, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang họ tên Ngô Thị T; 01 bộ quần áo màu vàng, 01 bộ quần áo màu xanh đen; 01 phiếu chỉ định và kết quả xét nghiệm, kiểm tra xong T lấy số tiền 280.000 đồng trong bóp da và vứt túi xách màu đen xuống suối, còn giấy tờ để lại trong ví da cùng quần áo của bà T thì T vứt cạnh bờ suối và điều khiển xe bỏ đi. Sau đó, T đã lấy 40.000 đồng để tiêu xài. Đến khoảng 17 giờ ngày 22/12/2023 thì Công an Đồn khu công nghiệp L mời T lên làm việc và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Công an huyện L thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.Về vật chứng, tài sản tạm giữ:
- + 01 điện thoại di động Oppo, màu xanh da trời A77S, kiểu máy CPH247 và 01 xe mô tô biển số 59X3-713.76, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius FI, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng và số tiền 1.956.000 đồng (trong đó có số tiền 240.000 đồng T chiếm đoạt của bà T) thu giữ của Nguyễn Trần Tuyết T.
- + 01 chiếc ví màu nâu, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng Agribank, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang họ tên Ngô Thị T, 01 bộ quần áo màu vàng, 01 bộ quần áo màu xanh đen, 01 phiếu chỉ định và kết quả xét nghiệm của bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh mang tên Ngô Thị T ngày 22/12/2023 thu giữ tại bờ suối N.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của Nguyễn Trần Tuyết T đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại số tiền 40.000 đồng và bị hại đã nộp đơn bãi nại cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2024/HSST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai đã áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Tuyết T 02 (hai) năm tù về tội “Cướp tài sản”.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Vào ngày 11 tháng 6 năm 2024 bị cáo Nguyễn Trần Tuyết T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa bị cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trần Tuyết T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cướp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, cung cấp được các tình tiết mới gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi cha mẹ già ốm đau bệnh tật, có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, chuyển sang hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo chấp hành cũng đủ tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
Quan điểm các luật sư tại phiên tòa: Thống nhất tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chỉ nhất thời phạm tội; nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, số tiền chiếm đoạt không lớn; tại cấp phúc thẩm cung cấp thêm tình tiết mới gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian sinh sống tại địa phương chấp hành tốt chính sách pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo để về lo cho cha mẹ già yếu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản án sơ thẩm đã nêu thể hiện:
Nguyễn Trần Tuyết T làm nghề tài xế chạy xe Grab mô tô. Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, tại khu công nghiệp L thuộc xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai T có hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc đánh bà Ngô Thị T làm bà T hoảng sợ bỏ chạy rồi chiếm đoạt số tiền 280.000 đồng của bà T.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.
[3] Về nội dung kháng cáo: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào việc bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ đó, cấp sơ thẩm xét xử tuyên phạt bị cáo mức án 02 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo cung cấp cho Hội đồng xét xử 01 đơn có xác nhận của địa phương thể hiện: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, số tiền chiếm đoạt không lớn; đã bồi thường thiệt hại, được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có nghề nghiệp ổn định và có nơi cư trú rõ ràng. Đây là các tình tiết mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc đi xe Grap dẫn đến bị cáo và bị hại đánh nhau, bị hại bỏ chạy để lại giỏ đồ bên đường, bị cáo thấy vậy liền kiểm tra phát hiện trong giỏ đồ có tư trang cá nhân và số tiền 280.000 đồng nên bị cáo lấy số tiền trên. Như vậy, hành vi của bị cáo chỉ nhất thời phạm tội; nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, số tiền chiếm đoạt không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại, được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có nghề nghiệp ổn định và có nơi cư trú rõ ràng. Trong vụ án này bị cáo đã bị giam hơn 6 tháng, xét thấy thời gian trên cũng đủ để răn đe, giáo dục và trừng trị đối với bị cáo. Do đó, để thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu, biết ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm do có nhiều tình tiết mới theo hướng xem xét chuyển từ hình phạt tù giam sang hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo chấp hành cũng phù hợp với quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[6] Quan điểm Luật sư phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm 121/2024/HSST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Trần Tuyết T 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên bố trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Trần Tuyết T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Nguyễn Trần Tuyết T cho Ủy ban nhân dân phường L, quận T, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Bị cáo bị xét xử về tội “Cướp tài sản”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quyên |
Bản án số 415/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm về tội cướp tài sản
- Số bản án: 415/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T phạm tội cướp giật tài sản
