|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 415/2024/DSST
Ngày: 21/11/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Trần Thục Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Đoàn Hồng Hải
2- Ông Lê Hữu Trọng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phương.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận 5 tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 164/2022/TLST – DS ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm 1973; chức danh: Tổng giám đốc.
Địa chỉ thường trú: Số G N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị Minh D1, sinh năm 1987; địa chỉ liên lạc: 25/37 đường D, P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 404/2022/GUQ-CNQ5 ngày 23/08/2022).
Bị đơn: Bà Võ Thị Hồng L, Sinh năm: 1977
Địa chỉ: A L B, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Tại Đơn khởi kiện ngày 23 tháng 08 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là S1) có đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S Chi nhánh Q và bà Võ Thị Hồng L (sau đây gọi tắt là bà L) thỏa thuận ký kết Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số [...] ngày 20/12/2019, khách hàng đã nhận nợ số tiền là: 70.000.000 đồng (bằng chữ: Bảy mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất 12 tháng đầu tiên kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng: 18,50%. Tại thời điểm bắt đầu từ tháng 13 kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng trở đi: lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được áp dụng mức lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân VNĐ 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ của S1 (+) cộng biên độ 10,6%/năm và được S1 quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần và phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay. Lãi suất điều chỉnh trong từng thời kỳ được hiểu là lãi suất điều chỉnh (floating rate) nhưng định kỳ điều chỉnh là không bắt buộc.
Khoản tiền vay của bà L đã bắt đầu quá hạn vốn lãi từ ngày 21/07/2021, bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó S1 đã chuyển toàn bộ số nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Kể từ khi khoản vay lên quá hạn, Ngân hàng thường xuyên đôn đốc nợ, thông báo cho khách hàng nhiều lần về khoản vay quá hạn và tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ nhưng phía bà L chỉ thanh toán được một phần vốn gốc đã quá hạn nhiều ngày với tổng số tiền là 2.120.000 đồng (Hai triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng) cho Ngân hàng vào ngày 14/03/2022. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ.
Tính đến ngày 21/11/2024, bà L còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc : 41.636.000 đồng
- Lãi trong hạn : 33.921.196 đồng
- Lãi quá hạn: 18.166.644 đồng
- Tổng cộng : 93.723.839 đồng
(Bằng chữ: Chín mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng).
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng S1 yêu cầu Toà án buộc bà Võ Thị Hồng L phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 21 tháng 11 năm 2024 là 93.723.839 đồng (Bằng chữ: Chín mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 41.636.000 đồng, lãi trong hạn là 33.921.196 đồng, lãi phạt quá hạn là 18.166.644 đồng. Và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22 tháng 11 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 5 đã nhiều lần triệu tập bà Võ Thị Hồng L đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có văn bản, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Tại phiên toà sơ thẩm,
2
Nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có Bản tự khai và Bản tóm tắt sao kê, tạm tính đến ngày 21/11/2024 bà L cần phải thanh toán cho S1 tổng cộng số tiền là 93.723.839 đồng (Bằng chữ: Chín mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 41.636.000 đồng, lãi trong hạn là 33.921.196 đồng, lãi phạt quá hạn là 18.166.644 đồng. Ngoài ra, bà L còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và các phụ lục hợp đồng tín dụng.
Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Võ Thị Hồng L phải thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 21/11/2024 là 93.723.839 đồng (Bằng chữ: Chín mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 41.636.000 đồng, lãi trong hạn là 33.921.196 đồng, lãi phạt quá hạn là 18.166.644 đồng đối với Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số [...] ngày 20/12/2019. Ngoài ra, bà L còn phải có trách nhiệm trả tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Về án phí: bà L chịu án phí theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số [...] ngày 20/12/2019, đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa tổ chức và cá nhân
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp địa chỉ cư trú của bị đơn bà Võ Thị Hồng L là 139 L B, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Do bị đơn tự ghi trong Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số [...] ngày 20/12/2019 thể hiện bị đơn cư trú tại Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Võ Thị Hồng L, sinh năm 1977 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ tại địa chỉ A L B, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư ngụ tại địa phương. Hiện bà L đang ngụ tại 30/14, tổ B, ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo xác minh của Công an xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, bà L hiện không cư trú tại địa phương.
3
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017 ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn: Đối với các trường hợp này là bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Toà án phải thụ lý giải quyết không được yêu cầu nguyên đơn bổ sung văn bản xác minh nơi cư trú của bị đơn...” vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, theo quy định pháp luật.
Toà án nhân dân Quận 5 đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhằm bảo vệ quyền lợi của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn, nhưng bà Võ Thị Hồng L vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012.
[1.3] Nguyên đơn có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn bà Võ Thị Hồng L là trường hợp được coi là cố tình giấu địa chỉ, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Xét việc nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu buộc bị đơn là bà Võ Thị Hồng L thanh toán số tiền nợ còn thiếu một lần cho nguyên đơn ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/11/2024 là 93.723.839 đồng (Bằng chữ: Chín mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 41.636.000 đồng, lãi trong hạn là 33.921.196 đồng, lãi phạt quá hạn là 18.166.644 đồng.
Buộc bà Võ Thị Hồng L còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng được thể hiện ở các tài liệu trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, bà L đã vi phạm các thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng, như vậy bà L là bên vi phạm không trả lãi và nợ gốc đúng hạn quy định trong Hợp đồng nên việc S1 yêu cầu bà L thanh toán số nợ gốc và lãi còn thiếu là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2011 là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về trả lãi và thời hạn thanh toán:
Tại khoản 27 Điều 1 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tính dụng của nguyên đơn quy định: “Lãi suất: là lãi suất cho vay mà S1 áp dụng đối với các khoản vay thông qua phát hành thẻ, bao gồm lãi suất trong hạn, và lãi suất quá hạn. Lãi suất trong hạn là lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất do S1 công bố theo từng thời kỳ.
Tại Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số [...] ngày 20/12/2019 giữa Ngân hàng và bà Võ Thị Hồng L đã ký kết về lãi vì vậy nguyên đơn áp dụng Lãi suất 12 tháng đầu tiên kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng: 18,50%. Tại thời điểm bắt đầu từ tháng 13 kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng trở đi: lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được áp dụng mức lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân VNĐ 13 tháng lãnh lãi
4
cuối kỳ của S1 (+) cộng biên độ 10,6%/năm và được S1 quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần và Lãi suất điều chỉnh trong từng thời kỳ được hiểu là lãi suất điều chỉnh (floating rate) nhưng định kỳ điều chỉnh là không bắt buộc là phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và các thông báo về việc thay đổi lãi suất và phí của S1 tại các thời kỳ xác định bị đơn trong quá trình thực hiện Hợp đồng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn. Vì vậy việc S1 yêu cầu bà Võ Thị Hồng L phải trả tiền nợ và lãi của Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số [...] ngày 20/12/2019 có dư nợ gốc là 41.636.000 đồng và lãi trong hạn là 33.921.196 đồng, lãi phạt quá hạn là 18.166.644 đồng. Tổng cộng: 93.723.839 đồng (bằng chữ: Chín mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng), tạm tính đến ngày 21/11/2024 là có cơ sở.
Do bà Võ Thị Hồng L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà L thanh toán số tiền nợ còn thiếu và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất chậm thanh toán ngay khi Bản án, Quyết định có hiệu lực là phù hợp theo quy định của pháp luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là 4.686.192 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo quy định của pháp luật.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 463; 466; 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về Án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
- Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/11/2019 của Hội đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân Tối cao;
5
- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S do bà Nguyễn Thị Minh D1 là người đại diện theo ủy quyền và vắng mặt bị đơn là bà Võ Thị Hồng L.
2. Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
2.1. Buộc bị đơn là bà Võ Thị Hồng L thanh toán một lần ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật số tiền còn nợ đối với Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số [...] ngày 20/12/2019 cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/11/2024 là 93.723.839 đồng (bằng chữ: Chín mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng), trong đó trong đó nợ gốc là 41.636.000 đồng, lãi trong hạn là 33.921.196 đồng, lãi phạt quá hạn là 18.166.644 đồng). Buộc bà Võ Thị Hồng L còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Việc giao nhận tiền do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Bà Võ Thị Hồng L phải chịu 4.686.192 đồng (bằng chữ: Bốn triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm chín mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3.2. Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.288.557 đồng (bằng chữ: Một triệu hai trăm tám mươi tám nghìn năm trăm năm mươi bảy đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010244 ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều
6
7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận: - TAND TP.HCM - VKSND TP.HCM - Các đương sự; - VKS nhân dân Quận 5; - Chi Cục THADS Quận 5; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trần Thục Oanh |
7
Bản án số 415/2024/DSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 415/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với bà Võ Thị Hồng L
