Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 415/2024/DS-PT

Ngày: 10/5/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

dịch vụ pháp lý”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Hồng

Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Ánh

Bà Trần Thị Kim Quy

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thế Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Phạm Duy Tuấn - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 25 tháng 4 và 10 tháng 5 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 176/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 02 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 363/2023/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1121/2024/QĐXXPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 4323/2024/QĐ-PT, ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty L2.

Địa chỉ: 9 N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trịnh Đức D, sinh năm 1979, căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: A T, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 001514 ngày 12/7/2023 lập tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1992, Luật sư của công ty TNHH M1 thuộc đoàn Luật sư Thành phố H.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1978; căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: A L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

  1. Ông Trương Hữu T1, sinh năm 1978, căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: Khu phố S, phường T, Thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
  2. Ông Phạm Hoàng P, sinh năm 1982; căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: B N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Hợp đồng ủy quyền số công chứng 003166 ngày 16/5/2023 lập tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đặng Thị Tuyết M, Luật sư của Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trịnh Khánh V, sinh năm 2002; căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: A L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ông Trịnh Phổ Q, sinh năm 2004; căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: A L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Khánh V và ông Trịnh Phổ Q: Ông Trương Hữu T1, sinh năm 1978, căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: Khu phố S, phường T, Thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Ông Phạm Hoàng P, sinh năm 1982; căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: B N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng ủy quyền số công chứng 003166 ngày 16/5/2023 lập tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh).

  1. Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1969; Chứng minh nhân dân số B; Địa chỉ: 1 P, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên hệ: Công ty L2, số 97-99-101 Nguyễn Công T3, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Văn T2: Ông Trịnh Đức D, sinh năm 1979, căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: A T, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng ủy quyền số công chứng 003636 ngày 01/10/2021 lập tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh).

  1. Văn phòng C2; Số đăng ký hoạt động: 41.02.0007 do Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh cấp, do Công chứng viên Đinh Quyết C làm Trưởng văn phòng; Địa chỉ: 9 N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
  2. Công ty TNHH L2, mã số Doanh nghiệp: 03119114528; Địa chỉ: 9 N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH L2: Ông Đoàn Thanh L, sinh năm 1986; Địa chỉ: 38/14/20/14 D, khu phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Người kháng cáo:

  1. Nguyên đơn Công ty L2;
  2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T2;
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứ B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2020, bản khai các ngày 30/7/2020, 26/11/2020, 20/4/2022, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là Công ty L2 trình bày:

1. Về yêu cầu khởi kiện:

Ngày 09/6/2015, Công ty L2 (Sau đây gọi là Công ty L2) và bà Phạm Thị H đã ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01/HĐ - 2015. Theo đó, bà H yêu cầu và Công ty L2 tư vấn pháp lý, hỗ trợ và đại diện bà H tiến hành thủ tục khai nhận di sản, bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà H và các con của bà H (Do bà H là đại diện hợp pháp) đối với 02 căn nhà: Số A L, phường B, Quận A và số A B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Các bên thống nhất phí dịch vụ pháp lý mà bà H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty L2 như sau: Trong trường hợp không phát sinh tranh chấp, phí dịch vụ pháp lý là 5% trên tổng giá trị mà bà H và các con bà H được hưởng đối với 02 nhà, đất nêu trên. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp và vụ việc được giải quyết tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Tòa án, Công an, Ủy ban nhân dân, ...), phí dịch vụ pháp lý là 10% tổng giá trị tài sản tranh chấp.

Căn cứ theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý nêu trên, Công ty L2 đã đại diện cho bà H và các con bà H tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế, đóng thuế cũng như hoàn thành việc giải quyết tranh chấp đối với các đồng thừa kế khác liên quan đến 02 nhà, đất nêu trên tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền, cụ thể:

Đối với nhà đất số A lầu B B, Phường P, Quận A do hộ ông Bùi Duy C1 đang sử dụng, đối với nhà đất số A lầu 3 B, hộ ông Nguyễn Đức Đ đang sử dụng. Do nguyên đơn không tự đứng ra thương lượng được với các hộ này, nên đã tư vấn bà H khởi kiện 02 hộ này ra Tòa án nhân dân Quận 1. Bà H khởi kiện hộ ông Bùi Duy C1 trước, Tòa án nhân dân Quận 1 thụ lý vụ án vào ngày 01/8/2016, đến ngày 16/6/2017 các bên hòa giải thành, ông C1 đồng ý trả nhà cho bà H; trong vụ này, nguyên đơn đã cử ông Vũ Đức D1 đại diện ủy quyền cho bà H và hai con của bà H tại Tòa án, bản tự khai ngày 19/12/2016 ông C1 có thể hiện Công ty Luật có liên

hệ với ông C1 để giải quyết vụ tranh chấp trên. Ông T2 cùng bà H có nhận bàn giao nhà theo biên bản bàn giao ngày 23/6/2017 giữa gia đình ông C1 và bà H và theo biên bản bàn giao 05/8/2017 giữa ông Đ và bà H, ông T2 cũng có tham gia (Do phía ông Đ và bà Hoàng t thỏa thuận được thông qua hòa giải tại UBND phường P). Nhà đất số A B đã kê khai di sản và đóng thuế đầy đủ khi chuyển nhượng sang cho người thứ 3.

Đối với nhà đất số A L (tầng 1 và tầng 2), phường B, Quận A, Công ty L2 nộp hồ sơ khai nhận di sản thừa kế tại Văn phòng C2 vào ngày 20/6/2016, Văn phòng C2 có văn bản xác minh tại UBND phường B đối với tình trạng pháp lý của căn nhà này. Ngày 20/7/2016, UBND phường B có văn bản 345 thể hiện căn nhà này đã niêm yết công khai và không có tranh chấp, trong các đồng thừa kế có ông Trịnh Mạnh T4 đang ở nước ngoài; Văn phòng C2 có gửi 02 thư mời ông T4 đến làm việc nhưng ông T4 không đến. Ngày 07/10/2016, ông T4 có văn bản thông báo không đến khai nhận di sản và sẽ khiếu nại đến tư pháp và công chứng. Ngày 17/5/2017, nguyên đơn tư vấn cho bà H khởi kiện ông T4 yêu cầu công nhận quyền sở hữu nhà, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra thông báo trả đơn vì lý đó phải khởi kiện tranh chấp thừa kế. Nguyên đơn cũng cử ông D1 làm khiếu nại đối với Thông báo trả lại đơn khởi kiện và làm hồ sơ tranh chấp thừa kế theo hướng dẫn của Tòa án và được Tòa án thụ lý vào ngày 28/7/2017. Trong quá trình giải quyết, ông T4 có đơn phản tố ngày 29/01/2018 tranh chấp căn nhà số A B với lý do ông T4 cung cấp thêm được 01 di chúc khác. Sau đó giữa ông T4 và bà H thỏa thuận được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế nên bà H rút đơn khởi kiện vào ngày 12/11/2018, ông T4 rút đơn phản tố ngày 10/11/2018, Tòa án Đình chỉ giải quyết vụ án vào ngày 12/11/2018. Nguyên đơn tiến hành thủ tục kê khai di sản thừa kế bổ sung vào ngày 12/11/2018 (Nhà 105 B, theo đó ông T4 bán phần của ông lại cho bà H giá 500.000.000 đồng) và vào ngày 14/11/2018 ông T4 bán phần thừa kế của ông lại cho bà H giá 500.000.000 đồng.

Về kê khai di sản thừa kế: Kê khai di sản lần đầu ngày 30/9/2016 tại Văn phòng C2 (Các văn bản làm căn cứ kê khai được thể hiện tại Văn bản kê khai di sản thừa kế ngày 30/9/2016); kê khai lần 02 ngày 12/11/2018, nguyên đơn kê khai bổ sung ông Trịnh Mạnh T4 là một trong các đồng thừa kế đang ở nước ngoài.

Về kê khai nộp thuế trước bạ: Ngày 07/11/2016, ông T2 đã kê khai thuế trước bạ lần 01 cho bà H; ngày 15/10/2019 kê khai thuế lần 02, nguyên đơn không nhớ chính xác ai là người trực tiếp đi kê khai.

Vấn đề nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận chủ quyền: Nguyên đơn là người đi nộp hồ sơ cho Văn phòng Đ1, sau khi Văn phòng Đ1 từ chối cấp sổ, bà Phạm Thị H đã nhờ bên thứ 3 đi làm giấy tờ nên để đảm bảo quyền lợi cho Công ty L2 thì Công ty đã yêu cầu bà H ký cam kết là hoàn thành công việc ngày 18/4/2019; ngày 01/10/2019 bị đơn được cấp Giấy chứng nhận đối với căn nhà A L, Quận A.

Theo biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019, bà H xác nhận Công ty L2 đã hoàn thành tất cả các dịch vụ pháp lý theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01/HĐ - 2015. Đồng thời, bà H cũng xác nhận phí dịch vụ pháp lý là 10 % trên tổng giá trị 02 nhà, đất trên và bà H chưa thanh toán phí dịch vụ pháp lý cho Công ty L2 (Sở dĩ bà H ký biên bản xác nhận này khi công việc vẫn chưa hoàn thành, vì bà H muốn lấy lại toàn bộ giấy tờ để nhờ người khác thực hiện). Ngày 26/02/2019, bà H đã bán nhà, đất số 105 Bùi Viện với tổng giá trị là 28.500.000.000 đồng. Công ty L2 đã nhiều lần yêu cầu bà H thực hiện nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ pháp lý nhưng cho đến nay bà H vẫn chưa thanh toán cũng như cố tình né tránh, không có thiện chí hợp tác giải quyết.

Theo yêu cầu bị đơn và Tòa án, nguyên đơn giải thích về một số điều khoản của Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01/HĐ – 2015 như sau:

Giải thích về Điều 1 Hợp đồng: Công ty L2 sẽ tư vấn pháp lý, giúp đỡ cho bà H và các con của bà H về các thủ tục khai nhận di sản thừa kế cho đến khi hoàn tất các thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với 02 căn nhà 105 lầu 2 B, Phường P và nhà A L, phường B, Quận A (tầng 1 và tầng 2). Phạm vi công việc là nhận tư vấn ban đầu cho đến khi bà Phạm Thị H và 02 con đứng tên chủ quyền trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Tại thời điểm tư vấn, bà H có đưa cho Công ty Luật các giấy tờ, tài liệu sau: 02 bản di chúc, 01 bản sửa đổi di chúc, chủ quyền 02 căn nhà trên (Bằng khoán điển thổ), chứng minh nhân dân, hộ khẩu của bà H và các con, giấy khai sinh của các con, giấy khai tử của bố mẹ chồng và chồng bà H, thông tin cá nhân ông Trịnh Mạnh T4 (Được thể hiện tại Văn bản kê khai di sản thừa kế ngày 30/9/2016)

Đối với thỏa thuận tại Điều 2 Hợp đồng về Thù lao luật sư: “Thù lao của luật sư được tính khoán gọn tương đương 5%” được giải thích là 5% nếu bà H không có tranh chấp về tài sản tại các cơ quan pháp luật, được tính trên phần của bà H và 02 con của bà H được hưởng từ 02 căn nhà trên. “Trong trường hợp vụ việc phải giải quyết tại cơ quan pháp luật...thì phí thù lao là 10%...” được giải thích là 10% được tính trên tổng giá trị tài sản tranh chấp tại các cơ quan Tòa án, Ủy ban, Công an.

Căn cứ vào Hợp đồng dịch vụ số 01/HĐ - 2015 ngày 09/6/2015, Giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017 (Có xác nhận của Văn phòng C2) và Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019 ký kết giữa Công ty L2 và bà Phạm Thị H, Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản của Chi cục thuế Q1. Công ty L2 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà H và hai con của bà H: Thanh toán một lần phí dịch vụ pháp lý cho Công ty L2 với tổng số tiền là 28.158.797.337 đồng; cụ thể: 10% của giá trị nhà, đất số 105 B là 2.850.000.000 đồng, căn cứ theo Hợp đồng mua bán nhà ngày 26/02/2019 với giá mua bán là 28.500.000.000 đồng và 10% giá trị nhà, đất số 144 Lê Thánh T5 là 25.308.797.337 đồng, căn cứ theo Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với

cá nhân chuyển nhượng bất động sản số H201611234/TB - CCT - TBA ngày 09/11/2016 của Chi cục Q1, Thành phố Hồ Chí Minh là 253.087.973.376 đồng.

2. Về yêu cầu phản tố của bị đơn: Nguyên đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn vì:

  • + Đối với yêu cầu hủy 02 văn bản Giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017 và Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019, nguyên đơn không đồng ý vì khi ký các văn bản này bà H hoàn toàn sáng suốt, có đầy đủ nhận thức được hành vi, không bị ép buộc, đã đọc kỹ trước khi ký.
  • + Đối với yêu cầu trả lại số tiền 900.000.000 đồng Công ty nhận ngày 01/8/2016, Công ty không đồng ý vì khi ký hợp đồng dịch vụ, bị đơn có tạm ứng cho nguyên đơn là 900.000.000 đồng để đóng án phí và thực hiện các công việc khác khi giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, nguyên đơn đã hoàn trả lại cho bà H 900.000.000 đồng theo Biên bản giao nhận tiền ngày 26/6/2017.
  • + Đối với yêu cầu trả lại số tiền 350.000.000 đồng theo các Phiếu thu ngày 02/8/2016, ngày 11/11/2016, ngày 14/6/2017 và ngày 05/8/2017 Công ty không đồng ý vì số tiền tại các phiếu thu này không phải do Công ty L2 phát hành mà do Công ty TNHH L2 phát hành, bà Huỳnh Thị Kim L1 đóng dấu tên trên các Phiếu thu cũng không phải là nhân viên của Công ty L2.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán phí dịch vụ pháp lý với tổng số tiền là 28.158.797.337 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với yêu cầu phản tố hủy Giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017 và Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019 của bị đơn, tại phiên tòa ngày 25/8/2023 bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, sau đó phiên tòa ngày 28/8/2023 bị đơn thay đổi yêu cầu là vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố này, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo đúng quy định của pháp luật; các yêu cầu phản tố khác bị đơn đã rút nguyên đơn không có ý kiến.

Đối với yêu cầu thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời của bị đơn, nguyên đơn không đồng ý vì việc nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh là theo yêu cầu của bị đơn được thể hiện trong Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019, khi bà H chưa thanh toán phí dịch vụ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu bà Hoàng c xuất cảnh, tài sản mà bà H đưa ra để phong tỏa không tương xứng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không đủ đảm bảo thi hành án.

Tại đơn phản tố ngày 04/8/2020, đơn bổ sung yêu cầu phản tố ngày 25/7/2023 và ngày 28/8/2023, bản khai các ngày 26/10/2020, 04/8/2020 và 26/4/2021, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn là bà Phạm Thị H trình bày:

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngày 09/6/2016 bà H (Bên A) có ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01/HĐ 2015 với Công ty L2 (Bên B), gồm các nội

dung chính như sau: Điều 1: Bên A yêu cầu và Bên B nhận tư vấn pháp lý, giúp đỡ pháp lý trong việc giúp Bên A thực hiện khai nhận di sản thừa kế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Bên A và các con Bên A (Do Bên A là giám hộ đương nhiên) đối với căn nhà số A L, phường B, Quận A và căn nhà số A B, phường P, Quận A. Điều 2: Giá trị hợp đồng (Thù lao luật sư) Thù lao của luật sư được tính khoán gọn tương đương 5% trên tổng giá trị mà Bên A và các con Bên A được hưởng từ 02 căn nhà nêu trên. Bên A chỉ thanh toán cho Bên B sau khi công việc hoàn tất việc khai nhận di sản thừa kế các tài sản nêu trên. Trong trường hợp vụ việc giải quyết tại cơ quan pháp luật (Tòa án, UBND, Công an...) thì phí thù lao sẽ là 10% trên tổng giá trị tài sản tranh chấp tại cơ quan pháp luật.

Hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 09/6/2015 được hoàn tất sau khi 02 căn nhà trên được cấp Giấy chứng nhận chủ quyền nhà, bà đồng ý với việc giải thích Điều 2 Hợp đồng dịch vụ của nguyên đơn và bà cũng xác nhận là đến nay bà vẫn chưa trả thù lao dịch vụ cho nguyên đơn. Tuy nhiên, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi lẽ:

Bà và các con đã hoán đổi toàn bộ phần thừa kế của gia đình bà trong căn nhà 105 Bùi Viện cho người thừa kế khác là ông Trịnh Mạnh T4 để nhận phần thừa kế của ông T4 trong căn nhà A L, phường B, Quận A (T tỷ lệ sở hữu của bà trong căn nhà A L). Do đó nếu phải thanh toán phí dịch vụ cho nguyên đơn, bà không đồng ý thanh toán phí dịch vụ tính trên tỷ lệ của giá trị căn nhà A B, Phường P, Quận A.

Nguyên đơn yêu cầu tính phí dịch vụ trên tỷ lệ của giá trị căn nhà A L, Phường B, Quận A với giá trị là 253.087.973.376 đồng, căn cứ theo Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản số H201611234/TB - CCT - TBA ngày 09/11/2016 của Chi cục Q1, Thành phố Hồ Chí Minh là không có căn cứ, vì trị giá này là do ông T2 tự khai với cơ quan thuế nên không phản ánh đúng giá trị thực tế của căn nhà 144 L. Do đó, bà đã yêu cầu Tòa án định giá lại để xác định giá trị thực tế của căn nhà này.

Nguyên đơn không thực hiện đúng các dịch vụ theo thỏa thuận được giao kết tại Hợp đồng dịch vụ số 01/HĐ - 2015, tư vấn sai trong việc khai nhận di sản thừa kế, dẫn đến kê khai không đúng, tại bản khai nhận di sản thừa kế năm 2016, không có nêu ông T4 là một đồng thừa kế, từ đó mới tạo ra các tranh chấp tại Tòa án nhân dân Quận 1 (Đối với căn 105 B) và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Đối với căn 144 L) và cũng không tư vấn cho bà biết là bà và các con được nhận bao nhiêu phần thừa kế trong 02 căn nhà trên, cụ thể: Căn nhà 105 B, mặc dù ông C1 đã có thư đề nghị thỏa thuận ngày 01/6/2016 với ông T2 vào trước thời điểm bà khởi kiện, gia đình bà đã giao thư đó cho ông T2 nhưng ông T2 không đồng ý thỏa thuận mà vẫn tư vấn khởi kiện ra Tòa án. Đối với căn nhà 144 Lê Thánh T5, trong quá trình làm hồ sơ xin cấp sổ, do ông T2 tư vấn sai, có hành vi gian dối trong việc kê khai tài sản và kê khai thuế, Chi nhánh Văn phòng Đ1 có

văn bản từ chối cấp Giấy chứng nhận, chính vì nhiều lần tư vấn sai, lợi dụng sự không am hiểu pháp luật của bị đơn để cố tình tư vấn tạo ra các tranh chấp để nâng tỷ lệ phí thù lao dịch vụ, nên ông T4 không đồng ý nguyên đơn đứng ra đại diện làm tiếp thủ tục, mà tự cử ông Huỳnh Khắc T6 để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đối với nhà 105 Bùi Viện.

  • + Kê khai thuế lần 1 không đúng với diện tích căn nhà A L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và bà người trực tiếp đi kê khai thuế lần 2 chứ không phải nguyên đơn.
  • + Căn nhà 105 B: Ông T2 kê khai di sản thừa kế thiếu ông T4 và tạo ra tranh chấp, cố tình không hoàn tất hồ sơ chủ quyền nhà nên ông T4 không tin tưởng ông T2 nữa, buộc bị đơn phải lấy lại giấy tờ nhà đi kê khai và làm giấy tờ nhà số A B.
  • + Căn nhà A L, phường B, Quận A: Ngày 25/3/2019, Văn phòng Đ1 có văn bản 14314 về việc kiểm tra nội nghiệp bản vẽ đối với căn nhà 144 + 136/22 Lê Thánh T5, xét thấy hồ sơ chưa đủ để kiểm tra nội nghiệp nên Văn phòng Đ1 trả lại hồ sơ xin cấp chủ quyền của bà. Sau khi hồ sơ bị trả vào tháng 3/2019, thì ngày 18/4/2019, ông T2 yêu cầu bà viết cam kết xác nhận nguyên đơn đã hoàn thành công việc thì mới trả lại hồ sơ bản chính và nguyên đơn đã trả lại toàn bộ hồ sơ cho bà vào ngày 29/7/2019.

Về yêu cầu phản tố của bị đơn:

  • + Đối với yêu cầu phản tố hủy Giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017 và Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019: Xuất phát từ việc tư vấn của nguyên đơn không đúng với quy định của pháp luật, dẫn đến Văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 30/9/2016 của bà tại Văn phòng C2 là chưa đúng thủ tục theo quy định của Điều 49, Điều 50 của Luật công chứng, làm cho đồng thừa kế khác là ông Trịnh Mạnh T4 bị ảnh hưởng đến quyền lợi, dẫn đến tranh chấp tại Tòa án. Nguyên đơn cũng chưa hoàn tất thủ tục khai nhận di sản thừa kế cho bà đối với 02 căn nhà số A L, phường B, Quận A và căn nhà số A B, phường P, Quận A, nhưng đã yêu cầu bà ký:

Giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017, nội dung: Bà có ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư Đinh Văn T2, trong bất kỳ trường hợp nào, phần thù lao mà bà trả cho luật sư Đinh Văn T2 là 10 % trên tổng giá trị thực tế của 02 căn nhà số A B và căn nhà số A L, Quận A vào thời điểm thanh toán.

Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019, nội dung: Bà xác nhận tính đến ngày 18/4/2019 Công ty L2 và luật sư Đinh Văn T2 đã hoàn thành mọi nghĩa vụ thực hiện Hợp đồng dịch vụ pháp lý với bà.

Khi ký Giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017 và Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019, Công ty L2 và luật sư Đinh Văn T2 chưa hoàn tất mọi nghĩa vụ thực hiện Hợp đồng dịch vụ pháp lý với bà, nên không thể yêu cầu bà phải thanh toán toàn bộ phí dịch vụ. Do đó, bà yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy xác

nhận và cam kết ngày 24/4/2017 và Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019, bà bị nguyên đơn và luật sư Đinh Văn T2 lừa dối, do thời điểm đó bà không nắm vững quy định pháp luật, tin tưởng luật sư và đã ủy quyền hết mọi công việc cho luật sư thì luật sư sẽ làm hết các thủ tục để bà được khai nhận di sản từ chồng và gia đình chồng của bà để lại cho bà và hai con và được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu; bà đã xác nhận sai sự thật khi xác nhận nguyên đơn và luật sư Đinh Văn T2 đã hoàn tất mọi nghĩa vụ thực hiện Hợp đồng dịch vụ pháp lý với bà, trong khi công việc phải thực hiện theo Hợp đồng dịch vụ là chưa xong.

  • + Đối với yêu cầu buộc nguyên đơn trả lại cho bà các khoản tiền mà nguyên đơn đã thu là 1.250.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng dịch vụ số 01/HĐ - 2015 ngày 09/6/2016, Công ty L2 và luật sư Đinh Văn T2 có thu của bà các khoản tiền là 1.250.000.000 đồng, theo các chứng từ sau:

Biên bản giao nhận tiền ngày 01/8/2016, ông T2 nhận của bà số tiền 900.000.000 đồng, về khoản: đóng dự án phí thêm tại tòa án (nếu phải đóng thêm), định giá tài sản tranh chấp (nếu có) liên quan đến việc đòi nhà, công nhận quyền sở hữu nhà 105 B. Sau khi công việc xong sẽ tất toán theo thỏa thuận.

Phiếu thu ngày 02/8/2016: 100.000.000 đồng, lý do nộp: Nhà 105 Bùi Viện; Phiếu thu ngày 11/11/2016: 50.000.000 đồng, lý do nộp: Khai thuế hộ; Phiếu thu ngày 14/6/2017: 100.000.000 đồng, lý do nộp: Nhà 105 Bùi Viện; Phiếu thu ngày 05/8/2017: 100.000.000 đồng, lý do nộp: Lầu 3 Bùi Viện.

Do đó, bà yêu cầu Công ty L2 và luật sư Đinh Văn T2 có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà H số tiền 1.250.000.000 đồng, là số tiền mà Công ty L2 và luật sư Đinh Văn T2 đã thu của bà theo Hợp đồng dịch vụ số 01/HĐ-2015 ngày 09/6/2016.

Tại phiên tòa, bà đồng ý trả cho nguyên đơn 5% phí dịch vụ theo hợp đồng trên phần tài sản mà bà và hai con của bà được hưởng, rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc nguyên đơn hoàn trả lại số tiền 1.250.000.000 đồng, vẫn giữ yêu cầu khởi kiện hủy Giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017 và Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019 và yêu cầu Hội đồng xét xử cho bà được thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời từ “cấm xuất cảnh” sang biện pháp “phong tỏa tài sản” là căn nhà 144 lầu 2 L, phường B, Quận A.

  • ☆ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trịnh Khánh V, anh Trịnh Phổ Q thống nhất với toàn bộ ý kiến của bà H và không có ý kiến gì khác.
  • ☆ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Văn T2 có ông Trịnh Đức D là người đại diện theo ủy quyền thống nhất với toàn bộ ý kiến của nguyên đơn và không có ý kiến gì khác.
  • ☆ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C2 tại bản ý kiến và đơn xin vắng mặt đề ngày 04/9/2020 trình bày:

Văn phòng C2 có chứng thực chữ ký của bà H trên giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017, việc chứng thực chữ ký được thực hiện đúng theo luật công chứng, Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Văn phòng C2 đề nghị được vắng mặt trong các buổi làm việc và xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.

  • ☆ Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị H, chị Trịnh Khánh V và anh Trịnh Phổ Q tại phiên tòa trình bày ý kiến thống nhất với ý kiến của bà H, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà H đồng ý trả 5% phí dịch vụ pháp lý trên tổng số tài sản mà bà H và hai con của bà H thực tế được hưởng. Đối với yêu cầu phản tố của bà H về hủy Giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017 và Biên bản xác nhận và cam kết ngày 18/4/2019 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và bảo vệ người yếu thế trong giao dịch, lợi dụng sự không am hiểu pháp luật của bị đơn, khi ký hợp đồng nguyên đơn dùng nhiều từ không rõ nghĩa và yêu cầu bị đơn ký xác nhận có lợi cho nguyên đơn, trong khi thực tế là công việc của nguyên đơn chưa hoàn thành; bị đơn cũng xin rút lại yêu cầu buộc nguyên đơn trả lại khoản tiền mà nguyên đơn đã thu là 1.250.000.000 đồng.

Đồng thời theo yêu cầu của bà H đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh của bà H, vì bà H đã chấp hành mọi yêu cầu của Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, đã ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng và thi hành án, các con của bà H đã lớn và có nhu cầu đi du học, nếu bị cấm xuất cảnh thì bà H không thể đưa các con đi được, là hạn chế quyền tự do đi lại của bà H, hơn nữa bà H có tài sản ở Việt Nam và tự nguyện đưa tài sản thuộc quyền sở hữu của mình là căn nhà 144 tầng 2 L, phường B, Quận A vào phong tỏa để bảo đảm cho việc thi hành án khi có bản án của Tòa án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 363/2023/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo đã quyết định:

  1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị H về việc yêu cầu Công ty L2 và Luật sư Đinh Văn T2 liên đới trả lại số tiền 1.250.000.000 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị H: Hủy giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017 do bà H ký tên được chứng thực chữ ký tại Văn phòng C2; Biên bản xác nhận và cam kết ngày 14/8/2019 giữa bà Phạm Thị H và Công ty L2.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty L2. Buộc bà Phạm Thị H, chị Trịnh Khánh V, anh Trịnh Phổ Q chịu trách nhiệm liên đới trả cho Công ty L2 số tiền phí dịch vụ pháp lý theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01/HĐ – 2015 ngày 09/6/2015 là 1.724.618.000 đồng, trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty L2 yêu cầu bà Phạm Thị H, chị Trịnh Khánh V, anh Trịnh Phổ Q trả tiền phí dịch vụ pháp lý 26.434.179.337 đồng.
  2. Duy trì Quyết định thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời số 19/2023/QĐ-BPKCTT ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn Công ty L2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứ B có đơn kháng cáo bản án số 363/2023/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn Công ty L2 có đại diện theo ủy quyền trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và chưa đánh giá khách quan, toàn diện vụ án. Giá trị nhà và đất tại địa chỉ A L khi tiến hành đo vẽ đã mất đi diện tích rất lớn so với diện tích trong giấy chứng nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Bị đơn có đại diện theo ủy quyền trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 363/2023/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về hình thức: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 363/2023/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến

phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức:

[1.1] Đơn kháng cáo của Nguyên đơn Công ty L2; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T2; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứ B làm trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Người kháng cáo đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 và ông Đinh Văn T2 có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo tủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty L2 về việc yêu cầu bà H và hai con của bà H trả tiền dịch vụ pháp lý theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01/HĐ – 2015 với tổng số tiền là 28.158.797.337 đồng. Xét thấy:

Ngày 09/6/2015, Công ty L2 và bà Phạm Thị H đã ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01/HĐ – 2015, với các nội dung chính như sau: Công ty L2 nhận tư vấn pháp lý, giúp đỡ pháp lý trong việc giúp bà H khai nhận di sản thừa kế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H và các con của bà H đối với 02 căn nhà số A L và số E B, Quận A. Thù lao luật sư theo hình thức khoáng gọn 5% trên tổng giá trị mà bà H và 02 con của bà H được hưởng từ 02 căn nhà trên; trường hợp vụ việc phải giải quyết tại cơ quan pháp luật (Tòa án, UBND, Công an...) thì phí thù lao sẽ là 10% trên tổng giá trị tài sản tranh chấp tại cơ quan pháp luật; thanh toán thù lao sau khi hoàn tất việc khai nhận di sản thừa kế các tài sản nêu trên. Về nội dung và hình thức của hợp đúng tuân thủ đúng trình tự của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng cụ thể:

Nguyên đơn trình bày: Đối với căn nhà A B, nguyên đơn đã kê khai di sản theo quy định, nhưng do căn nhà trên bà H không quản lý toàn bộ căn nhà mà có 02 hộ khác đang ở nhờ. Hộ nhà ông Bùi Duy C1 (Lầu 1), ngày 01/08/2016 Tòa án nhân dân Quận 1 đã thụ lý vụ án “đòi nhà cho ở nhờ” theo đơn khởi kiện của bà H; ngày 15/6/2017 các bên thống nhất hòa giải với nhau và Tòa án đã ban hành quyết định công nhận thỏa thuận tại phiên tòa; sau đó các bên đã tiến hành bàn giao nhà cho bà H. Hộ ông Nguyễn Đức Đ (Lầu 3), các bên tranh chấp tại UBND Phường P, căn cứ theo biên bản hòa giải các bên đã tiến hành bàn giao nhà cho bà H ngày 05/8/2017.

Nguyên đơn cho rằng theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý nêu trên, Công ty L2 đã cử luật sư Đinh Văn T2 tư vấn pháp lý cho bà H, cử đại diện ủy quyền cho bà H và hai con của bà H trong việc khai nhận di sản thừa kế, kê khai đóng thuế, cũng như hoàn thành việc giải quyết tranh chấp đối với các đồng thừa kế khác liên quan đến

02 căn nhà nêu trên tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Ngày 18/4/2019, bà H có văn bản xác nhận và cam kết Công ty L2 đã hoàn thành tất cả các dịch vụ pháp lý theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01/HĐ - 2015. Đồng thời, bà H cũng xác nhận phí dịch vụ pháp lý là 10% trên tổng giá trị 02 căn nhà và bà H chưa thanh toán phí dịch vụ pháp lý cho Công ty L2.

Sau khi hoàn tất các thủ tục trên, nguyên đơn đã tiến hành khai nhận di sản thừa kế và nộp hồ sơ kê khai thuế đầy đủ, nộp hồ sơ đăng bộ để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với 02 căn nhà trên. Sau khi Văn phòng Đ1 từ chối cấp sổ, bà Phạm Thị H đã nhờ bên thứ 3 đi làm giấy tờ nên để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn, nguyên đơn yêu cầu bà H ký cam kết là hoàn thành công việc, đó là lý do Hoàng ký xác nhận đã hoàn thành công việc ngày 18/4/2019.

Bị đơn cho rằng Luật sư Đinh Văn T2 của Công ty L2 tư vấn pháp lý sai quy định của pháp luật trong việc khai nhận di sản thừa kế đối với 02 căn nhà số A B, Phường P và số A L, phường B, Quận A: Vì tư vấn sai, bỏ sót người hưởng thừa kế, nên ông T2 tư vấn cho bà H khởi kiện ra Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu công nhận sở hữu tài sản đối với phần di sản mà ông T4 được hưởng trong căn nhà 105 Bùi Viện và bị Tòa án trả đơn do bà H không có quyền khởi kiện.

Việc ông T2 tư vấn tạo ra các tranh chấp tại Tòa án nhân dân Quận 1 (Đối với căn 105 B) và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Đối với căn 144 L), kê khai thừa kế không đúng để phải làm việc nhiều lần với cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Kê khai thuế, nộp hồ sơ làm chủ quyền nhà không đầy đủ, Chi nhánh Văn phòng Đ1 có văn bản từ chối cấp, trả hồ sơ cấp chủ quyền nhiều lần. Sau khi hồ sơ bị trả vào tháng 3/2019, vì không tin tưởng ông T2 nên bà H mới nhờ người khác làm hồ sơ chủ quyền nhà, ngày 18/4/2019, ông T2 yêu cầu bà viết cam kết xác nhận nguyên đơn đã hoàn thành công việc thì mới trả lại hồ sơ bản chính và nguyên đơn trả lại toàn bộ hồ sơ cho bà H vào ngày 29/7/2019.

Ngày 24/4/2017, bà H có ký Giấy xác nhận và cam kết trả 10% phí dịch vụ theo hợp đồng đối với 02 căn nhà trên theo trước bạ mới nhất Thông báo số H201611235/TB-CCT-TBT và H201611234/TB-CCT-TBT ngày 07/11/2016 của Chi cục Q1. Tuy nhiên, khi ký giấy xác nhận này, bà H không đồng ý với tờ kê khai thuế của nguyên đơn thực hiện, đồng thời các bên vẫn chưa giải quyết xong việc kê khai di sản đối với ông Trịnh Mạnh T4 và thực tế sau đó có tranh chấp tại Tòa án, nếu xác nhận này có hiệu lực thì nguyên đơn đã không tiếp tục thực hiện khởi kiện và kê khai thừa bổ sung vào ngày 14/11/2018 cho bị đơn, cho nên có thể khẳng định Giấy xác nhận ngày 24/4/2017 chưa đủ căn cứ để được xem là hoàn tất nghĩa vụ hợp đồng, bao gồm cả phí thù lao dịch vụ.

Ngày 18/4/2019, bà H và nguyên đơn có ký Biên bản và cam kết đã hoàn tất mọi nghĩa vụ thực hiện Hợp đồng dịch vụ pháp lý và xác nhận chưa trả thù lao, tuy nhiên bà H cho rằng do ông T2 không thực hiện đúng việc kê khai thuế, lại đang giữ toàn bộ bản chính giấy tờ chủ quyền nhà của bà và vì không còn sự tin tưởng vào nguyên đơn nên bà phải ký biên bản trên để ông T2 giao trả lại bản chính giấy tờ nhà cho bà. Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày không biết việc kê khai và nộp thuế của bà H, không biết việc giữa bà H và ông T4 thỏa thuận việc phân chia và khai nhận di sản thừa kế năm 2019.

Xét, thời điểm các bên ký biên bản và cam kết đã thực hiện xong Hợp đồng dịch vụ pháp lý là ngày 18/4/2019; căn cứ vào thời điểm Chi cục Q1 tiếp nhận phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính (liên thông điện tử) đối với bất động sản số 144 (Tầng A và tầng 2) Lê Thánh T5, phường B, Quận A là ngày 15/10/2019; thời điểm bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với căn hộ 144 (Tầng A và tầng 2) Lê Thánh T5, phường B, Quận A là ngày 08/10/2019. Như vậy, lời khai của bà H về việc nguyên đơn yêu cầu ký xác nhận như trên là có căn cứ.

Xét, theo thỏa thuận tại Điều 3 của hợp đồng về nghĩa vụ của bên A, bao gồm toàn bộ công việc khoán trọn gói của hợp đồng; theo quy định tại Điều 28, 29 và 30 Luật Luật sư, trách nhiệm tư vấn pháp luật, đại diện cho khách hàng giải quyết các công việc có liên quan đến công việc mà luật sư đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý thuộc về nguyên đơn.

Căn cứ quy định tại khoản 6 Điều 404 Bộ luật Dân sự “Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia”, nguyên đơn là bên soạn thảo hợp đồng nên phải giải thích hợp đồng theo hướng có lợi cho bị đơn dựa trên mối liên hệ với nhau của toàn bộ hợp đồng.

Tại phiên tòa, bà H và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H đồng ý trả 5% phí dịch vụ pháp lý căn cứ theo kết quả định giá do Hội đồng định giá thực hiện.

Từ phân tích trên xác định thù lao Luật sư được tính khoán gọn 5% trên tổng giá trị mà bà H và hai con được hưởng từ 02 căn nhà trên. Căn cứ Điều 55, Điều 56 Luật Luật sư, Điều 519 Bộ luật Dân sự, bà H phải có nghĩa vụ trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận. Do đó, có căn cứ để chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn đưa ra mức giá tính phí dịch vụ dựa trên “Thông báo về việc nộp lệ phí trước bạ nhà đất ngày 09/11/2016” đối với căn nhà 144 Lê Thánh T5 là 253.087.973.376 đồng, 10% phí dịch vụ tương ứng 25.308.797.337 đồng và căn

nhà 105 Bùi Viện trên mức giá mua bán nhà ngày 26/02/2019 là 28.500.000.000 đồng, 10% phí dịch vụ là 2.850.000.000 đồng. Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu là 28.158.797.337 đồng là không có căn cứ, vì các lý do sau: Thông báo về việc nộp lệ phí trước bạ nhà đất ngày 09/11/2016 đối với căn nhà 144 Lê Thánh Tôn bà H không sử dụng thông báo này để kê khai và đóng thuế trước bạ và năm 2019 bà H đã kê khai lại và đóng thuế trước bạ; còn đối với căn nhà A B, như đã phân tích ở trên là bà H và 02 con chỉ được chia thừa kế 500.000.000 đồng từ căn nhà này.

Căn cứ kết quả định giá ngày 08/6/2022 của Hội đồng định giá được Tòa án nhân dân Quận 1 thành lập theo Quyết định số 2338/2022/QĐ-ĐGTS ngày 16/5/2022 thì tổng giá trị căn nhà 144 (Tầng A và tầng 2) Lê Thánh T5, phường B, Quận A là 33.992.360.000 đồng.

Số tiền thù lao 5% mà bà H và 02 con phải trả cho nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là: (33.992.360.000 đồng + 500.000.000 đồng) *5% = 1.724.618.000 đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bà H thanh toán phí dịch vụ 26.434.179.337 đồng.

Từ những phân tích và nhận định trên. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn Công ty L2; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T2; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứ B.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 363/2023/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phạm Thị H, chị Trịnh Khánh V, anh Trịnh Phổ Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 63.738.540 đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0029515 ngày 12/8/2020 và 24.750.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0029513 ngày 12/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1; Bà Phạm Thị H, chị Trịnh Khánh V, anh Trịnh Phổ Q còn phải nộp 38.688.540 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm

Công ty L2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 134.434.179 đồng và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng đối với yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị H được Tòa án chấp nhận; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 68.079.398 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0029293 ngày 17/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1. Công ty L2 còn phải nộp 66.654.781 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm

7. Về án phí dân sự phúc thẩm:

  1. Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty L2 không được chấp nhận nên Công ty L2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng. Được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044598 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty L2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  2. Do yêu cầu kháng cáo của Văn phòng C2 không được chấp nhận nên Văn phòng C2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng. Được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044597 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. Văn phòng C2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Do yêu cầu kháng cáo của ông Đinh Văn T2 không được chấp nhận nên ông Đinh Văn T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng. Được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044599 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. ông Đinh Văn T2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Việc thi hành các phần nội dung của quyết định nêu trên được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị H về việc yêu cầu Công ty L2 và Luật sư Đinh Văn T2 liên đới trả lại số tiền 1.250.000.000 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị H: Hủy giấy xác nhận và cam kết ngày 24/4/2017 do bà H ký tên được chứng thực chữ ký tại Văn phòng C2; Biên bản xác nhận và cam kết ngày 14/8/2019 giữa bà Phạm Thị H và Công ty L2.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty L2. Buộc bà Phạm Thị H, chị Trịnh Khánh V, anh Trịnh Phổ Q chịu trách nhiệm liên đới trả cho Công ty L2 số tiền phí dịch vụ pháp lý theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01/HĐ – 2015 ngày 09/6/2015 là 1.724.618.000 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty L2 yêu cầu bà Phạm Thị H, chị Trịnh Khánh V, anh Trịnh Phổ Q trả tiền phí dịch vụ pháp lý 26.434.179.337 đồng.
  2. Duy trì Quyết định thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời số 19/2023/QĐ-BPKCTT ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc thi hành các phần nội dung của quyết định nêu trên được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

6. Về Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phạm Thị H, chị Trịnh Khánh V, anh Trịnh Phổ Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 63.738.540 đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0029515 ngày 12/8/2020 và 24.750.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0029513 ngày 12/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1; Bà Phạm Thị H, chị Trịnh Khánh V, anh Trịnh Phổ Q còn phải nộp 38.688.540 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm

Công ty L2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 134.434.179 đồng và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng đối với yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị H được Tòa án chấp nhận; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 68.079.398 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0029293 ngày 17/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1. Công ty L2 còn phải nộp 66.654.781 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm

7. Về án phí dân sự phúc thẩm:

  1. Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty L2 không được chấp nhận nên Công ty L2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng. Được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044598 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty L2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  2. Do yêu cầu kháng cáo của Văn phòng C2 không được chấp nhận nên Văn phòng C2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng. Được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044597 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. Văn phòng C2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Do yêu cầu kháng cáo của ông Đinh Văn T2 không được chấp nhận nên ông Đinh Văn T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng. Được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044599 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. ông Đinh Văn T2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP . HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - TAND Quận 1;
  • - Chi cục THADS Quận 1;
  • - Cục THADS TP . HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Việt Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 415/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý

  • Số bản án: 415/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger