|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 414 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-11-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thức
- Bà Nguyễn Thị Lý
- - Thư ký Tòa án: Ông Lê Văn Thoảng – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
- - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân L - Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 255/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Hồ Ngọc L1 - Sinh năm 1973 - Địa chỉ: Tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1975 - Địa chỉ: Tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2023, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Hồ Ngọc L1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị T kết hôn với nhau vào năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng nay là phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 01 ngày 19/12/1997). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung lời qua tiếng lại, cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc.
Hiện nay về mặt tình cảm ông không còn thương yêu bà Nguyễn Thị T, theo ông thì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ con chung: Ông xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên là Hồ Ngọc L2, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1998 và Hồ Ngọc L3, sinh ngày 24 tháng 01 năm 2004. Ly hôn các con chung đã thành niên nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Tại bản tự khai đề ngày 31/8/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T thừa nhận về thời gian và điều kiện kết hôn như ông Hồ Ngọc L1 trình bày là đúng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với bố mẹ ông L1 tại tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng đôi lúc cũng có xảy ra mâu thuẫn do áp lực kinh tế, vợ chồng lời qua tiếng lại nhưng bà nghĩ những mâu thuẫn đó chưa đến mức trầm trọng để dẫn đến việc ly hôn. Do ông L1 có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác có 01 con riêng, hiện nay người phụ nữ hối thúc ông Lưu ly h. Hiện nay về mặt tình cảm bà vẫn còn thương yêu ông L1, bà bỏ qua tất cả lỗi lầm của ông L1, gia đình chồng, hai con đều mong muốn vợ chồng bà đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình, là chỗ dựa cho các con. Vì vậy, bà không đồng ý ly hôn.
- Về quan hệ con chung: Bà xác nhận vợ chồng có 02 con chung đã thành niên như ông L1 trình bày.
- Về quan hệ tài sản chung: Vì không đồng ý ly hôn nên bà không có ý kiến gì.
- Về nợ chung: Vì không đồng ý ly hôn nên bà không có ý kiến gì.
* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Hồ Ngọc L1 đối với bà Nguyễn Thị T.
+ Về con chung, về tài sản chung,về nợ chung: Do yêu cầu ly hôn của ông Hồ Ngọc Lưu k được chấp nhận nên không xem xét giải quyết
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn về việc xin ly hôn, không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “ Tranh chấp ly hôn”.
[2] Về thẩm quyền: Quá trình Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị T có địa chỉ tại tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân:
[3.1] Ông Hồ Ngọc L1 và bà Nguyễn Thị T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng nay là phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 01 ngày 19/12/1997). Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung với gia đình ông L1 tại tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, hôn nhân giữa ông Hồ Ngọc L1 và bà Nguyễn Thị T là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[3.2] Xét yêu cầu ly hôn của ông Hồ Ngọc L1, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo ông Hồ Ngọc L1 trình bày thì nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình và quan điểm sống không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, lời qua tiếng lại, cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc. Hiện nay về mặt tình cảm ông không còn thương yêu bà T, theo ông thì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn để sống chung nên ông xin được ly hôn với bà Nguyễn Thị T. Còn bà T cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, xuất phát từ vấn đề kinh tế nhưng không đáng kể, nguyên nhân chính là do ông L1 có quan hệ với người phụ nữ khác có con riêng, người phụ nữ kia xúi giục nên ông Lưu ly h làm đơn ly hôn bà. Do vậy, bà không đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa, ông L1 cũng xác định ông có quan hệ với một người phụ nữ tại tỉnh Quảng Trị và hiện có 01 con riêng được 06 tuổi, sau đại dịch Covid-19 kinh tế gia đình giảm nên từ đó giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, có lời qua tiếng lại. Tuy nhiên, bà T xác định mâu thuẫn vợ chồng chưa trầm trọng, bà vẫn còn thương yêu ông L1 và bỏ qua tất cả, mong muốn vợ chồng đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình.
Hiện nay ông L1, bà T và 02 con vẫn đang sống chung với bố mẹ ông L1. Theo xác minh tại nơi cư trú thì vợ chồng ông L1 bà T sống tại tổ dân phố thân thiện, hiền lành và chưa thấy xảy ra mâu thuẫn gì. Mẹ ông L1 và con trai ông L1 mong muốn ông L1 bà T đoàn tụ để các con yên tâm học tập, làm việc. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa ông L1 và bà T chưa đến mức trầm trọng, còn có khả năng hàn gắn. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Hồ Ngọc L1 đối với bà Nguyễn Thị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Hồ Ngọc L1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.
[6] Về án phí: Nguyên đơn ông Hồ Ngọc L1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Điều 28, 35, 39,147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Ngọc L1 đối với bà Nguyễn Thị T về việc ly hôn.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:Ông Hồ Ngọc L1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001767 ngày 07/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Ông Hồ Ngọc L1 đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Bản án số 414/2023/HNGĐ-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 414/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị T
