Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 414/2023/DS-PT.

Ngày: 25/8/2023.

Về việc: “Tranh chấp quyền sử

dụng đất và quyền sở hữu tài sản".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy
  • - Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Anh
  • Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng- Thư ký Tòa án NDTP. Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Vĩnh Thảo- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 89/2023/TLPT- DS ngày 07 tháng 3 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản”; do Bản án số: 198/2022/DS-ST ngày 12-09-2022 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 380/2023/QĐXX-PT ngày 08 tháng 8 năm 2023; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1957; Trú tại địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  2. Ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1963; Trú tại địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  3. Ông Nguyễn Thế T1, sinh năm 1978; Trú tại địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Trung K - Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà S, số A C, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn:

  • Ông Nguyễn Thế G, sinh năm 1951; Trú tại địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957 (Là vợ ông G); Trú tại địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  2. Anh Nguyễn Thế Q, sinh năm 1992 (Là con ông G, bà H); T2 tại địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  3. Anh Nguyễn Minh T3, sinh năm 1979 (Là con ông G, bà H); Nơi thường trú: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Thôn Q, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
  4. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1984 (Là vợ anh C); Nơi thường trú: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Thôn Q, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

4. Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Thế V, sinh năm 1962.
  2. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1948.
  3. Ông Nguyễn Xuân T5, sinh năm 1975.
  4. Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1961.

Cùng trú tại địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Có mặt: Ông Đ, ông T, ông T1, ông G, ông T6, anh T3, anh Q, Luật sư K.

Các đương sự khác có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 02 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn là các ông: Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Thế T và Nguyễn Thế T1 trình bày:

Từ xa xưa, dòng họ Nguyễn T7 đã có Nhà thờ họ, tọa lạc trên thửa đất rộng 162m² tại ngõ T, thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Theo hồ sơ quản lý đất đai mới nhất của xã V thì thửa đất nơi nhà thợ họ Nguyễn T7 tọa lạc được đánh số 77, tờ bản đồ số 4, thôn V, xã V. Tại tờ bản đồ màu xanh có ghi bằng bút đỏ là “Nhà thờ họ Nguyễn T7”; Tại tờ bản đồ số 4, thôn V, xã V màu trắng ghi số thửa 77, diện tích 162m² có ghi bằng bút chì là Nhà thợ họ Nguyễn Thế . Còn tại Sổ theo dõi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã V, dòng số 0024 có ghi là Nhà thờ họ Nguyễn Thế .

Tứ cận thửa đất như sau: Phía Bắc giáp đất nhà ông B; Phía Tây giáp đất nhà ông R; Phía Đông và phía Nam giáp ngõ đi chung. Trên đất có 01 ngôi nhà thờ họ 05 gian, khung nhà làm bằng gỗ lim, diện tích khoảng 50m² làm hết đất về phía Bắc giáp nhà ông B. Ba gian giữa làm nơi thờ cúng, hai gian trái (hai bên) gia đình ông Nguyễn Thế G làm nơi sinh sống. Trước đây, ngôi nhà được làm ngoảnh về hướng Đông. Năm 1985, cụ Nguyễn Thế Đ1 là bố đẻ ông G đại tu lại nhà thờ, chuyển ngôi nhà từ hướng Đông sang hướng N. Hiện tại trên nóc nhà thờ vẫn khắc ghi dòng chữ: “Trưởng họ Nguyễn Thế Đ1 đại tu năm 1985”.

Nguyên trước đây, gia đình cụ Nguyễn Văn C2 là trưởng họ ở trong 01 ngôi nhà 03 gian nhỏ hẹp làm hết đất về phía Bắc ngoảnh về hướng Nam, trong nhà đã có sẵn một số đồ thờ cúng như: Hoành phi, ỷ, ngai thờ, vv... Cụ C2 chết từ năm 1940, vợ cụ C2 ở nhà đất trên đến năm 1979 thì chết. Sau khi vợ cụ C2 chết, cụ Đ1 là em con chú ruột của cụ C2 cùng vợ chồng và các con ông G chuyển đến ở, trông nom.

Năm 1985, cụ Đàm d bỏ toàn bộ nhà cũ để làm ngôi nhà mới 05 gian ở vị trí hết đất về phía Tây nam ngoảnh hướng Đông như hiện nay. Khi cụ Đ1 làm nhà, nhiều người trong họ Nguyễn T7 đến làm giúp và đóng góp kinh phí nhưng không có sổ sách ghi chép gì để lưu lại làm chứng cứ giao nộp cho Toà án. Nhân dịp tổ chức giỗ họ đầu tiên ngày 13 tháng 09 năm 1986, một số thành viên trong họ công đức một số đồ thờ cúng mới.

Theo tục lệ, truyền thống ở quê thì việc trông coi, quản lý nhà thờ thường được giao cho T8 họ. Dòng họ Nguyễn T7 cũng vậy. Trước năm 1979, cụ C2T8 họ và đảm nhiệm việc trông coi nhà thờ họ Nguyễn Thế . Do cụ C2 không có con trai, không có em trai ruột nên sau khi cụ mất, quyền T8 họ được chuyển cho cụ Nguyễn Thế Đ1 (Là em con chú, con bác ruột với cụ C2). Cụ Đ1 đã tiếp quản việc trông coi Nhà thờ họ Nguyễn T7 đến khi mất, ông G là con trai cụ tiếp quản vai trò, vị trí của T8 họ, trông coi nhà thờ họ Nguyễn Thế . Cả dòng họ trong đó có ông G đều xác định Nhà thờ họ là do tổ tiên để lại, là nơi để con cháu tụ họp vào dịp giỗ chạp, lễ Tết, không phải là nơi dùng để ở, sinh hoạt hàng ngày.

Năm 1997, ông G làm đơn kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông, được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 77, tờ bản đồ số 12, diện tích 162m², thôn V, xã V theo Quyết định số 497/QĐ-UB ngày 03 tháng 11 năm 1997, tại số thứ tự 24 trong danh sách đính kèm Quyết định số 497/QĐ-UB. Khi biết được sự việc, dòng họ đã nhiều lần họp bàn, khuyên giải ông G trả lại đất cho họ. Ngày 20 tháng 09 năm 2003, ông G đã làm đơn gửi tới thôn V, xã V với nội dung: “Hiện nay tôi và gia đình đang ở trên mảnh đất của dòng họ Nguyễn Thế . Từ trước tới nay tôi luôn xác định đất này là của họ chứ không phải của riêng gia đình tôi”. Sau đó, ông G làm đơn đề nghị và được cấp 01 thửa đất giãn dân tại xóm V, thôn V rộng 120m², theo Quyết định số 5787/QĐ-UB ngày 15 tháng 08 năm 2005 của Ủy ban nhân dân thành phố H, giao đất làm nhà ở giãn dân nông thôn tại xã V. Gia đình ông G đã làm nhà trên đất mới được cấp và chuyển ra đó ở nhưng vẫn không trả nhà, đất cho họ, còn khóa cửa không cho các thành viên trong họ đến thắp hương vào những dịp lễ, giỗ.

Ngày 01 tháng 11 năm 2011, dòng họ Nguyễn T7 có đơn khởi kiện đòi tài sản là nhà thờ họ cùng thửa đất đối với ông G đến Tòa án nhân dân huyện Đông Anh. Ngày 31 tháng 07 năm 2014, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh đã có Quyết định số 18/2014/QÐST-DS đình chỉ giải quyết vụ án do “Việc ủy quyền của thành viên dòng họ cho những người nhận ủy quyền của dòng họ chưa phù hợp với hình thức ủy quyền theo quy định của Điều 142 Bộ luật Dân sự”.

Năm 2015, ông G làm đơn xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do bị mất. Khi biết được thông tin đó, dòng họ đã có đơn đề nghị Văn phòng Đ3 chi nhánh huyện Đ không làm thủ tục liên quan đến việc xác lập quyền sử dụng đối với thửa đất cho bất cứ ai, kể cả ông G, nhưng Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H vẫn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 270990 ngày 11 tháng 12 năm 2015 cho gia đình ông G, theo Quyết định số 1769/QĐ-STNMT ngày 11 tháng 12 năm 2015. Các ông Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Thế T, Nguyễn Xuân T9 và Nguyễn Thế T1 đại diện cho dòng họ có đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu hủy Quyết định số 1769/QĐ-STNMT ngày 11 tháng 12 năm 2015 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nêu trên nhưng đã bị Tòa án xử bác yêu cầu khởi kiện của các ông tại Bản án số 32/2020/HC-ST ngày 12 tháng 05 năm 2020. Các ông có đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 18 và ngày 21 tháng 06 năm 2021, các ông rút đơn khởi kiện nên Tòa án đã ban hành Quyết định số 259/2021/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2021, hủy án sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

Về phía dòng họ Nguyễn T7 vẫn muốn hòa giải với gia đình ông G theo hai phương án: Một là, Dòng họ và gia đình ông G mỗi bên sử dụng ½ thửa đất, bên họ nhận phần đất phía Đông nam giáp nhà ông, bà Bính M, gia đình ông G sử dụng phía Tây bắc giáp tiểu ngõ. Quyền sử dụng đất vẫn đứng tên ông G theo Giấy chứng nhận đã được nhà nước cấp năm 2015; Hai là: Trường hợp gia đình ông G không ở trên ½ đất còn lại thì dòng họ mua lại với giá 650.000.000đ (Sáu trăm năm mươi triệu đồng) để xây nhà thờ và một ngôi nhà nhỏ cùng với công trình phụ cho vợ chồng ông G ở đến cuối đời. Nhưng gia đình ông G không chấp nhận. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Công nhận thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m² và tài sản gắn liền với đất là nhà thờ dòng họ Nguyễn T7, thuộc địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội và buộc ông Nguyễn Thế G phải trả lại cho dòng họ Nguyễn Thế khối tài sản này.
  • + Tuyên hủy Quyết định số 1769/QĐ-STNMT ngày 11 tháng 12 năm 2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H và thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 270990 đã cấp cho ông Nguyễn Thế G, đồng thời buộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà thờ là dòng họ Nguyễn T7 tại thôn V, xã V theo đúng với thực tế.

Tại văn bản ý kiến ngày 21 tháng 10 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, bị đơn là ông Nguyễn Thế G trình bày:

Theo truyền thống các cụ để lại thì gia đình ông là trưởng họ Nguyễn Thế thôn Vân Đ2. Cụ C2 là anh con bác ruột bố ông chết nhưng không có con trai nối dõi thì cụ Đ1 là bố ông làm Trưởng họ rồi đến ông như hiện nay.

Thửa đất mà ông Đ, ông T, ông T1 tranh chấp với gia đình ông hiện nay có nguồn gốc của các cụ trong gia đình ông để lại cho cụ C2, đến bố ông là cụ Đ1 rồi đến ông ở. Gia đình ông kê khai chủ sử dụng đất và phải đóng thuế đất hàng năm theo quy định của nhà nước. Trong 02 cuốn Gia phả không có chữ nào nói dòng họ Nguyễn Thế thôn Vân Điềm có đất và nhà thờ. Rất nhiều người trong dòng họ không kiện ông mà còn phản đối việc kiện tụng vì họ biết đất này là của các cụ nhà ông để lại, không phải là của họ Nguyễn Thế .

Năm 1997, xã thông báo có đợt làm “sổ đỏ” (đợt 1), ông làm hồ sơ và được các hộ liền kề ký nhận. Xã niêm yết trong 01 tháng cho cả làng biết mà không ai thắc mắc gì. Ngày 03 tháng 11 năm 1997, gia đình ông được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m², địa chỉ: Thôn V, xã V mang tên ông là chủ hộ sử dụng.

Năm 2003, khi anh T3 con trai ông đi bộ đội về đã 25 tuổi sắp lấy vợ, nên gia đình ông có mua của thôn V 01 xuất đất có diện tích 130m² với giá gần 17 triệu đồng để làm nhà ở và giãn khẩu. Cũng trong năm 2003, xã V có đợt xét cấp giãn dân, ông Nguyễn Xuân T10 là người trong họ Nguyễn Thế làm Trưởng thôn Vân Điềm có bảo ông viết đơn xin cấp đất ghi lý do đất gia đình ông đang ở là của dòng họ để được địa phương cấp cho một xuất nữa, nhưng Ủy ban xã không chấp nhận. Ông T10 không trả lại đơn cho ông mà giữ lại để một số người trong họ làm căn cứ kiện đòi đất với gia đình ông từ đó đến nay.

Năm 2008, ông đã sơ xuất làm mất “sổ đỏ” đất. Năm 2011- 2012, các ông: Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Xuân T9, Nguyễn Thế T và Nguyễn Thế T1 khởi kiện tranh chấp nhà thờ họ với gia đình ông nhưng Tòa án nhân dân huyện Đông Anh đã đình chỉ giải quyết vụ án năm 2014. Gia đình ông đã làm thủ tục cấp lại “sổ đỏ” thửa đất và được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp lại ngày 11 tháng 12 năm 2015.

Năm 2018, các ông C1, Đ, T9, T và T1 tiếp tục khiếu kiện việc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp lại “sổ đỏ” đất cho gia đình ông nhưng đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử bác yêu cầu vì không có căn cứ. Tòa án đã xác định thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông, không phải của dòng họ Nguyễn Thế thôn Vân Đ2.

Đối với tài sản là ngôi nhà ngói 05 gian có trên đất là do cụ Đàm bố ông làm năm 1985. Cụ phải bán một mảnh vườn lấy tiền mua khung nhà gỗ lim cũ của làng mang về làm để sử dụng như hiện nay không có bất cứ ai trong họ đóng góp hay giúp đỡ gì về kinh phí. Dòng chữ: “Trưởng họ Nguyễn Thế Đ1 đại tu năm 1985” ghi trên nóc nhà bằng gỗ là do ông Nguyễn Xuân T10 khi đó làm thợ mộc tự khắc, cụ Đàm mắt kém nên không biết. Nay ông thấy không đúng nên đã tẩy xóa đi. Các công trình như bếp, khu chăn nuôi, nhà tắm, sân, tường, cổng giếng khoan là do gia đình ông xây mới hoàn toàn trong quá trình ở trên đất cùng bố ông.

Đồ thờ cúng như: Ngai thờ, hoành phi, lư hương có từ thời các cụ trong gia đình ông để lại;. Đôi câu đối là do ông bỏ tiền riêng đặt mua từ năm 1985 nên là tài sản của gia đình ông, không liên quan đến dòng họ. Vì là trưởng họ nên hàng năm gia đình ông vẫn cho họ đến nhà ông tổ chức làm lễ giỗ tổ tiên.

Ông xác định tài sản trên là của gia đình ông, không liên quan đến họ Nguyễn T7 nên ông không chấp nhận yêu cầu của ông Đ, ông T và ông T1, cũng không chấp nhận phương án hòa giải mà nguyên đơn đưa ra ở trên. Sau này, khi nhà nước công nhận thửa đất là của gia đình ông, ông vẫn tự nguyện làm 01 ngôi nhà thờ để cho dòng họ hàng năm tổ chức sinh hoạt thờ cúng như trước đây.

Tại Bản tự khai ngày 21 tháng 10 năm 2021, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Minh T3, anh Nguyễn Thế Q và chị Nguyễn Thị T4 (là vợ và các con ông Nguyễn Thế G): Nhất trí với lời khai và quan điểm của ông G nêu trên.

Bản án dân sự sơ thẩm số 198/2022/DS-ST ngày: 12-09-2022 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử:

  1. Không chấp nhận đơn khởi kiện của các ông: Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Thế T và Nguyễn Thế T1 đối với ông Nguyễn Thế G.
  2. Xác định quyền sử dụng đất có tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m² (Thực đo 155,1m²), địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội trị giá 1.240.800.000đ (Một tỷ, hai trăm bốn mươi triệu, tám trăm ngàn đồng) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông Nguyễn Thế G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 270990 ngày 11 tháng 12 năm 2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cho hộ gia đình ông Nguyễn Thế G.
  3. Xác định tài sản gồm: Ngôi nhà cấp 4; Bếp; Nhà tắm, sân gạch, giếng khoan, tường cổng có trị giá tổng cộng là: 21.785.700đ (Hai mươi mốt triệu, bẩy trăm tám mươi lăm ngàn, bẩy trăm đồng) và đồ thờ cúng trị giá: 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) thuộc sở hữu hợp pháp của gia đình ông Nguyễn Thế G.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo.

Không đồng ý bản án sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, các bên đương sự giữ nguyên ý kiến của mình và không hòa giải được với nhau.

Ông G đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư Trần Trung K trình bày bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị:

Nguồn gốc ngôi nhà và thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, thôn V, xã V gia đình ông G đang trực tiếp quản lý, sử dụng có nguồn gốc của dòng họ Nguyễn Thế . Trước khi chuyển giao cho cụ Đ1 bố ông G quản lý là cụ C2. Do cụ C2 không có con trai nên khi cụ C2 chết, họ đã giao cho cụ Đ1 làm trưởng họ tiếp tục trông nom để lo việc họ. Sau khi biết ông G tự ý kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, họ không đồng ý và có ý kiến với xã nên xã không giao giấy chứng nhận cho ông G. Vì vậy, trong Sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã ghi là đất nhà thờ họ Nguyễn T7, không có chữ ký của ông G. Ông G khai bị mất để xin được cấp lại giấy chứng nhận năm 2015 là không đúng.

Tại Biên bản họp họ Nguyễn Thế ngày 19 tháng 09 năm 2003 và Giấy xác nhận ngày 20 tháng 09 năm 2003, ông G thừa nhận thửa đất ông và gia đình đang sử dụng là đất Nhà thờ họ và xin cấp đất giãn dân, được Ủy ban nhân dân xã V xét cấp cho gia đình ông G 120m² đất giãn dân mới ở cùng thôn V vào năm 2004. Từ năm 2014, dòng họ Nguyễn T7 đã khởi kiện tranh chấp đất đai với ông G đến các cấp Toà án giải quyết.

Tại Biên bản họp Hội đồng tư vấn xã V ngày 13 tháng 09 năm 2019 đã xác định nguồn gốc thửa đất tranh chấp là của cụ đẻ ra bố chồng cụ C2. Bố chồng cụ C2 và cụ C2 là trưởng họ Nguyễn T7V không có con kế vị, do vậy khi vợ cụ C2 chết thì cụ Nguyễn Thế Đ1 quản lý, trông nom, ở lại đó vì là cháu thúc bá (Bố đẻ ra cụ Đ1 và bố đẻ ra cụ C2 là hai anh em ruột). Vì lẽ đó, năm 1985, cụ Đ1 làm lại ngôi nhà thờ đã khắc dòng chữ “Trưởng họ Nguyễn Thế Đ1 đại tư” trên nóc ngôi nhà.

Với những căn cứ trên, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • + Công nhận thửa đất và tài sản có trên đất thửa số 77, tờ bản đồ số 4, thôn V, xã V là của dòng họ Nguyễn Thế . Buộc ông Nguyễn Thế G trả lại nhà, đất cho dòng họ Nguyễn Thế
  • + Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình ông Nguyễn Thế G, đồng thời cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho dòng họ Nguyễn Thế thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, thôn V, xã V, huyện Đ, Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:

  • - Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các qui định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Đương sự trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, chấp hành các thông báo, quyết định tố tụng của Tòa án.
  • - Về đường lối giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị: Nguyên đơn có yêu cầu đề nghị Tòa án xác nhận thửa đất tranh chấp của dòng họ Nguyễn T7, buộc gia đình ông G trả lại thửa đất này cho dòng họ đồng thời đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông G. Thời điểm thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn thì yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông G đang được Tòa án cấp cao giải quyết (trong vụ án hành chính). Tuy nhiên sau đó Tòa cấp cao đã đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nhưng Tòa cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu hủy GCNQSDĐ của nguyên đơn, không giải quyết yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn, không đưa UBND huyện Đ tham gia tố tụng là bỏ sót yêu cầu của đương sự, đưa thiếu người tham gia tố tụng. Những vấn đề này tại cấp phúc thẩm không khắc phục được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giữ hồ sơ tại Tòa án Hà Nội giải quyết vụ án lại từ giai đoạn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

1. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xác định thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, thôn V, xã V, huyện Đ, Hà Nội thuộc quyền sử dụng của dòng họ Nguyễn Thế .

Nhận thấy: Các bên đương sự đều thống nhất xác định thửa đất tranh chấp có nguồn gốc của tổ tiên để lại. Cụ C2 sinh thời là Trưởng họ Nguyễn Thế thôn Vân Đ2 và vợ chồng cụ C2 sinh sống và thờ phụng tổ tiên, tổ họ tại đất này. Do vợ chồng cụ C2 không có con trai và không có em trai nên sau khi các cụ chết, cụ Đ1 (bố đẻ ông G)- là con chú ruột cụ C2- kế tục là Trưởng họ Nguyễn Thế thôn Vân Đ2 và gia đình vợ con cụ Đ1 chuyển đến nhà, đất này vừa để ở vừa để tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ người trưởng họ trong việc thờ cúng tổ tiên, tổ họ tại đây.

Năm 1985, cụ Đ1 có đại tu lại nhà và ghi trên thanh nóc nhà dòng chữ: “Trưởng họ Nguyễn Thế Đ1 đại tu năm 1985”. Ông G thừa nhận: Các đồ thờ cúng như: Ngai thờ, hoành phi, bàn thờ, lư hương bằng gỗ có từ thời cụ C2 để lại còn đôi câu đối là do ông bỏ tiền riêng đặt mua từ năm 1985, còn trống cái do các đinh trong họ góp mua, sau này nguyên đơn đã mang đi; dòng họ Nguyễn Thế thôn Vân Điềm vẫn thực hiện việc giỗ họ tại đất nhà đất này cho đến khi xảy ra tranh chấp thì ông không cho dòng họ vào giỗ họ nữa.

Năm 1997, ông G đứng tên kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này cho hộ gia đình ông Nguyễn Thế G, trong danh sách cấp đất ghi hộ ông G chưa có đất ở. Tại sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại trang số 2, cột 6 và 7 có ghi chú: “Nhà thờ họ Nguyễn T7”.

Tại “Giấy xác nhận” ngày 20/9/2003 (BL76) do chính tay ông G viết gửi UBND xã V có nội dung khẳng định gia đình ông chỉ ở nhờ trên đất nhà thờ họ Nguyễn Thế . Tại Biên bản họp họ ngày 19/9/2003 (BL 99) có chữ ký của ông G và chữ ký của 19 người đại diện 19 hộ gia đình trong họ Nguyễn T7 cũng khẳng định đất này là của dòng họ Nguyễn Thế thôn Vân H1, gia đình ông G chỉ ở nhờ trên đất nhà thờ họ. Năm 2004, gia đình ông G đã được cấp 120m² đất giãn dân khu vườn Cam nhưng vẫn quản lý và sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, thôn V.

Năm 2008, do bị thất lạc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông G làm đơn xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2011-2012 thì xảy ra tranh chấp với những người trong dòng họ Nguyễn Thế thôn Vân H1. Các ông Đ, C1, T, T9, T1 đại diện cho dòng họ Nguyễn T7 đứng ra kiện đòi lại đất nhà thờ đối với ông G nhưng do không lấy được hết ý kiến ủy quyền của tất cả các thành viên trong dòng họ nên Tòa án đã đình chỉ việc giải quyết vụ án do các nguyên đơn không đủ điều kiện khởi kiện. Ngày 11/12/2015, Sở T cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông G. Năm 2018, các ông Đ, C1, T, T9, T1 khởi kiện vụ án hành chính đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở T cấp cho hộ ông G. Bản án hành chính sơ thẩm số 32/2019/HCST ngày 12/5/2020 của Tòa án NDTP Hà Nội không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, C1, T, T9, T1. Các ông Đ, C1, T, T9, T1 kháng cáo. Tháng 10 năm 2020, các ông Đ, C1, T, T9, T1 làm đơn khởi kiện vụ án dân sự về việc tranh chấp đất nhà thờ họ đối với ông G, đồng thời đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông G. Tòa án huyện Đông Anh đã thụ lý giải quyết yêu cầu tranh chấp đòi quyền sử dụng đất của các ông Đ, C1, T, T9, T1 vào ngày 14/10/2021còn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Tòa án cấp cao đang giải quyết phúc thẩm nên không thụ lý. Tại phiên tòa hành chính phúc thẩm ngày 21/6/2021, các ông Đ, C1, T, T9, T1 rút kháng cáo, rút đơn khởi kiện vụ án hành chính và ngày 27/11/2021 Tòa án nhân dân cấp cao đã hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 32/2020/HCST ngày 12/5/2020 của Tòa án NDTP Hà Nội và đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Phía nguyên đơn đại diện cho 38 hộ, 204 khẩu trong dòng họ Nguyễn Thế thôn V cho rằng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m², thuộc địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, khung nhà bằng gỗ của 3 gian giữa của nhà 3 gian 2 trái tọa lạc trên đất cùng với đồ thờ cúng (Ngai thờ, hoành phi, bàn thờ, lọ hoa) là của dòng họ Nguyễn Thế thôn Vân Điềm, ông Nguyễn Thế G là Trưởng họ nên được phép trông coi, thờ cúng tổ tiên chứ không phải là tài sản riêng của gia đình ông G, do ông G ngăn cản việc cúng giỗ họ của dòng họ Nguyễn T7 tại đây nên đề nghị Tòa án buộc gia đình ông G trả lại dòng họ đất và các tài sản này. Phía bị đơn ông G cho rằng, thửa đất cùng tài sản gắn liền với đất là tài sản riêng của gia đình ông, không phải của nhà thờ họ dòng họ Nguyễn T7 nên không đồng ý trả lại thửa đất cho dòng họ, sau này ông sẽ cắt một phần đất làm nhà thờ cho dòng họ cúng lễ vì ông là Trưởng họ.

Xét thấy: Theo tục lệ địa phương thì khi T8 họ không có con trai, em trai ruột thì chức T8 họ sẽ truyền lại cho người con trai con chú. Trưởng họ có trách nhiệm trông coi nhà thờ họ, tổ chức việc cúng, giỗ tổ họ hàng năm và các gia đình trong họ có quyền đến nhà thờ họ để thực hiện việc cúng, giỗ tổ tiên và có trách nhiệm cùng T8 họ tu sửa, tôn tạo nhà thờ cũng như gìn giữ, mua sắm đồ thờ cúng.

Ngôi nhà 3 gian trước đây cùng toàn bộ thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m², thuộc địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội do vợ chồng cụ C2 ở và dùng làm nơi thờ cúng tổ tiên được giao lại cho cụ Đ1 là con của chú ruột cụ C2 và cụ Đ1 thay thế cụ C2 thực hiện vai trò của người Trưởng họ: Trông coi, tu sửa nhà cửa vừa làm nơi ở vừa làm nơi thờ cúng tổ tiên, tổ chức giỗ tổ họ hàng năm cho toàn thể dòng họ Nguyễn Thế thôn V1. Không có tài liệu, chứng cứ gì thể hiện vợ chồng cụ C2 tặng cho cụ Đ1 nhà, đất này. Việc tu sửa nhà thờ họ của cụ Đ1 thể hiện bằng việc cụ tháo dỡ 3 gian nhà cũ mà cụ C2 để lại, tận dụng gỗ của 3 gian này để làm 3 gian nhà mới và làm thêm 2 trái; trên thanh nóc 3 gian nhà giữa cụ còn ghi rõ: “Trưởng họ Nguyễn Thế Đ1 trùng tu năm 1985”. Nếu chỉ là tu sửa, làm nhà cho riêng gia đình mình thì sẽ không có việc cụ Đ1 ghi cả chức danh “Trưởng họ” như vậy và thực tế, trước khi có tranh chấp với dòng họ thì hàng năm ông G và trước đó là cụ Đ1 đều tổ chức giỗ tổ họ Nguyễn T7 tại nhà, đất này mà không phải ở nơi nào khác.

Tại “Giấy xác nhận” ngày 20/9/2003 (BL76) do chính tay ông G viết gửi UBND xã V cũng khẳng định gia đình ông chỉ ở nhờ trên đất nhà thờ họ Nguyễn Thế . Tại Biên bản họp họ ngày 19/9/2003 (BL 99) có chữ ký của ông G và chữ ký của 19 người đại diện 19 hộ gia đình trong họ Nguyễn T7 cũng khẳng định đất này là của dòng họ Nguyễn T7, gia đình ông G chỉ ở nhờ trên đất nhà thờ họ, điều này phù hợp với danh sách cấp đất giãn dân có xác nhận của UBND xã V được UBND huyện Đ xét duyệt năm 2004 thể hiện hộ ông G không có mét đất ở nào (BL146). Điều này thể hiện, tuy hộ gia đình ông G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m², thuộc địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, Hà Nội nhưng bản thân ông G và dòng họ Nguyễn T7 vẫn xác định đây là đất của dọng họ Nguyễn T7, ông G chỉ là người đại diện cho dòng họ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng, chính vì vậy, trong sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 cũng ghi chú thửa 77 là “nhà thờ họ Nguyễn T7”.

Hơn nữa, các đồ thờ cúng như hoành phi, ngai thờ, bàn thờ, lọ hoa gỗ đều được cụ Đ1 chuyển từ nhà thờ cũ của cụ C2 sang để tiếp tục thờ, sau khi cụ Đ1 trùng tu xong nhà thờ, các đinh trong họ còn góp tiền mua thêm trống cái để dùng vào việc giỗ họ hàng năm và việc cụ Đ1, ông G vẫn duy trì việc giỗ họ tại đây cho đến trước khi tranh chấp cũng là chứng cứ thể hiện đây là đất nhà thờ họ Nguyễn Thế .

Mặt khác, tại Biên bản hòa giải ngày 29/7/2011, bản thân ông G cũng thỏa thuận phân chia diện tích đất thửa 77 để xây dựng nhà thờ họ mới tại vị trí giáp đất nhà ông R; Biên bản họp họ ngày 30/01/2011 của dòng họ Nguyễn T7 về việc xây dựng nhà thờ họ mới, ông G có tham gia và ký thống nhất xây mới 3 gian nhà thờ họ vào vị trí đất giáp đất ông R; thống nhất số tiền đóng góp của mỗi đinh và thời gian đóng góp tiền xây nhà thờ.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn: Xác định thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m² (số đo thực tế là 155,1m²) thuộc địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội là của dòng họ Nguyễn Thế thôn Vân Điềm.

2. Xét yêu cầu đòi quyền sử dụng đất dòng họ của nguyên đơn.

Nhận thấy: Trong quá trình quản lý, sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m² (số đo thực tế là 155,1m²) thuộc địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, gia đình ông G có nhiều công sức tôn tạo, gìn giữ, duy trì, đóng thuế đất và công sức đại tu nhà thờ nên cần trích công sức cho gia đình ông G bằng 50% diện tích thửa đất tức bằng 77,55m² đất. Phần diện tích 77,55m² đất còn lại và nhà ngói cổ 5 gian gia đình ông G phải có trách nhiệm bàn giao lại cho dòng họ Nguyễn Thế thôn V. Ghi nhận tự nguyện của nguyên đơn thanh toán lại cho gia đình ông G công sức đại tu nhà thờ bằng trị giá nhà 5 gian.

3. Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở T cấp cho hộ gia đình ông G:

Như trên đã nhận định, diện tích đất tranh chấp là của dòng họ Nguyễn T7, không có căn cứ để xác định thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông G. Do vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông G của UBND huyện Đ năm 1997 và của Sở T năm 2015 là chưa chính xác. Tuy nhiên, do công sức của gia đình ông G trong việc duy trì, gìn giữ, tôn tạo đất nên gia đình ông G được trích công sức là một nửa thửa đất và tại phiên tòa hôm nay, phía nguyên đơn cũng không yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông G mà chỉ đề nghị điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông G cho phù hợp với diện tích đất mà ông G được chia. Do vậy, không cần thiết phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện ĐSở T cấp cho hộ ông G năm 1997 và năm 2015 mà ông G có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xin điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo phần đất gia đình ông được chia theo bản án. Dòng họ Nguyễn T7 có trách nhiệm cử người đại diện đứng tên làm thủ tục kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với phần đất được chia theo quyết định bản án.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do chỉ được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nên Nguyên đơn phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000đ;

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ. Tuy nhiên bị đơn là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do bản án sơ thẩm bị sửa nên các nguyên đơn có kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sửa Bản án sơ thẩm số 198/2022/SST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, TP .. Cụ thể:

Áp dụng: Điều 211, 166 Bộ luật dân sự 2015.

- Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 03 năm 2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về tài sản chung của dòng họ;

- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết;

- Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế Đ, ông Nguyễn Thế T và ông Nguyễn Thế T1 đối với ông Nguyễn Thế G.
    1. Xác định thửa đất số số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m² (số đo thực tế là 155,1m²) thuộc địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội là của dòng họ Nguyễn Thế thôn Vân Điềm.
    2. Trích công sức cho gia đình ông Nguyễn Thế G bằng diện tích 77,55m² đất giới hạn bởi các điểm (1',2,3,3',1') trên sơ đồ kèm theo bản án
    3. Buộc gia đình ông Nguyễn Thế G phải trả lại cho dòng họ Nguyễn Thế thôn Vân Hà diện tích đất 77,55m² giới hạn bởi các điểm (1,1',3',4,1) trên sơ đồ kèm theo bản án.
    4. Buộc gia đình ông G phải bàn giao nhà ngói cổ 5 gian trị giá 14.032.500₫ (mười bốn triệu, không trăm ba mươi hai ngàn, năm trăm đồng; khu chăn nuôi, nhà vệ sinh đã hết khấu hao cho dòng họ Nguyễn T7 được quyền sử hữu, sử dụng. Ghi nhận tự nguyện của dòng họ Nguyễn T7 do ông Nguyễn Thế Đ, ông Nguyễn Thế T và ông Nguyễn Thế T1 đại diện có trách nhiệm thanh toán lại trị giá nhà 5 gian cho gia đình ông G (do ông G đại diện nhận) số tiền là 14.032.500đ (mười bốn triệu, không trăm ba mươi hai ngàn, năm trăm đồng).
  2. Ông G có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xin điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với phần đất gia đình ông được chia theo bản án.
  3. Dòng họ Nguyễn T7 có trách nhiệm cử người đại diện đứng tên làm thủ tục kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với phần đất được chia theo quyết định bản án.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ; được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Thế T và ông Nguyễn Thế T1 đã nộp tại các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0045567 và số AA/2020/0045566 ngày 14 tháng 10 năm 2021 (mỗi BL thu 300.000đ - Ba trăm ngàn đồng) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; còn được nhận lại 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng);
    2. Bị đơn ông G được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Các ông Nguyễn Thế TNguyễn Thế T1 được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp tại BL số 0046914; 0046915 cùng ngày 20/9/2022 (do ông Nguyễn Thế Đ nộp thay) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật để thi hành kể từ ngày tuyên án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND. TP. Hà Nội;
  • - TAND huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS. huyện Đông Anh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 414/2023/DS-PT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản

  • Số bản án: 414/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger