Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 414/2024/DS-PT

Ngày: 28/8/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Đồng

Ông Nguyễn Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 234/2024/TLPT-DS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 308/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn L, sinh năm 1956 và Nguyễn Thị Yến A, sinh năm 1964; cư trú tại: Ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Dương Văn C sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1965; cư trú tại: Áp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.

Người kháng cáo: Ông Dương Văn C, bà Nguyễn Thị P là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/5/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 13/3/2023; đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 07/8/2023 - ông Ngô Văn L trình bày: Ông và ông C không có họ hàng, chỉ là chòm xóm với nhau. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do cha ông tên Ngô Văn P1 mua của ông Y vào năm nào không biết. Sau đó, cha ông để lại phần đất này do ông quản lý sử dụng. Theo ông biết lối đi hình thành từ trước năm 1985 chiều ngang khoảng 03m. Đến năm 1985, ông T cho rằng lối đi nằm trên phần đất của ông, do đó, lối đi dịch chuyển qua phần đất của ông khoảng 06m và hình thành lối đi từ năm 1985 cho đến nay. Do ông không biết trên bản đồ địa chính lối đi nằm ở đâu. Ông chỉ biết đất ông giáp lối đi nên khi ông T yêu cầu dịch chuyển lối đi qua đất của ông thì ông không có ý kiến phản đối. Ông đồng ý để mọi người sử dụng lối đi này từ năm 1985 đến nay. Phía gia đình ông không có xây dựng hàng rào nhưng có trồng bụi tầm vong ở đầu đường (cạnh lối đi). Phía bị đơn xây hàng rào vào năm 2008 giáp lối đi nhưng chỉ xây tạm. Sau đó, bị đơn ngưng làm bánh tráng mới xây hàng rào kiên cố như hiện nay. Khi xây hàng rào, ông cho rằng bị đơn xây lấn qua đất và lấn đường. Nhưng ông không có làm đơn gửi chính quyền địa phương giải quyết. Trước đây, khoảng 10 hộ dân sử dụng lối đi tranh chấp để ra đường công cộng. Hiện nay, do những hộ dân này đã dời nhà ra cặp đường cất nhà nên chỉ còn 05 hộ dân sử dụng lối đi tranh chấp ra đường công cộng. Sau khi ông biết thửa đất 258 có chiều ngang và chiều dài đến đâu thì ông tiến hành đo để xây hàng rào. Đến lúc này, ông mới cắm trụ ranh để xây hàng rào thì phía ông C ngăn cản. Do đó hai bên phát sinh tranh chấp. Lối đi trước đây là đường đất. Sau đó, phía bị đơn có tiến hành đổ đá trên lối đi có chiều dài khoảng hơn 20m. Sau khi Tòa án tiến hành thẩm định thì phía bị đơn mới đổ thêm đá từ phần đất mua của ông T. Trước đây, ông khởi kiện yêu cầu ông C, bà P trả lại phần đất ngang 06m dài 60. Nay qua đo đạc thực tế ông thay đổi yêu cầu khởi kiện, ông yêu cầu phía bị đơn trả lại phần đất đang sử dụng cho ông, yêu cầu phía bị đơn trả lại hiện trạng lối đi theo bản đồ địa chính. Qua kết quả đo đạc, bị đơn sử dụng phần đất diện tích 330m² thuộc thửa 258, tờ bản đồ 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sử dụng đất của ông để làm lối đi nên ông yêu cầu bị đơn trả lại.

Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Yến A trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông L.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Dương Văn C trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông T. Vợ chồng ông mua vào thời gian nào không nhớ. Chỉ nhớ ông sử dụng phần đất này từ năm 1985 cho đến nay. Khi ông mua đất của ông T thì đã có lối đi tranh chấp như hiện nay. Ông cho rằng phần đất tranh chấp do ông T chừa ra để làm lối đi. Lối đi tranh chấp hình thành từ khi nào thì ông không biết. Vào năm 1985, khi ông về cất nhà trên đất mua thì đã có lối đi như hiện nay. Ông có biết việc tranh chấp lối đi giữa ông T và ông L nhưng cụ thể như thế nào thì ông không biết. Ông không biết lối đi trên bản đồ như thế nào nhưng hiện trạng lối đi từ năm 1985 đến nay không thay đổi. Ông xây hàng rào giáp lối đi từ năm 1995. Từ năm 1995 đến nay vẫn giữ nguyên hiện trạng hàng rào, không bị dịch chuyển. Ông thừa nhận lối đi ban đầu là đường đất. Do đường sình lầy nên ông mới đổ đá trên phần đất lối đi này. Khi đổ đá phía nguyên đơn không có ý kiến ngăn cản gì cả. Ông không biết việc nguyên đơn có tiến hành đo đạc lại đất trước khi làm thủ tục không nhưng hiện trạng lối đi đã hình thành từ lâu. Việc nguyên đơn mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) vào năm 2014 là không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất. Ông không có lấn đất của nguyên đơn, do đó, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông yêu cầu xem xét điều chỉnh giấy GCNQSDĐ của nguyên đơn cấp bao trùm lối đi nên yêu cầu trả lại lối đi, giữ nguyên hiện trạng lối đi như hiện nay.

Bị đơn – bà Nguyễn Thị P trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông C.

Tại bản án số 23/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TAND thị xã Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn L, bà Nguyễn Thị Yến A “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Dương Văn C, bà Nguyễn Thị P.

    Buộc ông Dương Văn C, bà Nguyễn Thị P trả lại phần đất diện tích 205,9m² thửa 258, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho ông Ngô Văn L, bà Nguyễn Thị Yến A được quyền sử dụng. Có tứ cận như sau:

    • - Hướng Đông giáp đường dài 00m;
    • - Hướng Tây thửa 54 (hiện trạng đường đất) dài 4,12m;
    • - Hướng Nam giáp thửa 258 (phần còn lại) dài 15,48m + 27,81m + 8,06m + 4,51m;
    • - Hướng Bắc giáp đường đất, giáp thửa 258 (phần còn lại) dài 19,85m + 27,53m + 7,09m (Có sơ đồ kèm theo).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn L, bà Nguyễn Thị Yến A đối với phần đất diện tích 124,1m² thửa 258, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
  3. Kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích 124,1m² thửa 258, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh ra khỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH054426 ngày 11/9/2014 do ông L, bà A đứng tên để làm lối đi chung.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/6/2024 ông Dương Văn C, bà Nguyễn Thị P kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Dương Văn C, bà Nguyễn Thị P thấy rằng:

[1.1] Phần đất của ông L, bà A có nguồn gốc do cha ông L (Ngô Văn T1) mua của ông Y (không nhớ ngày mua) để lại cho ông L sử dụng, lối đi hình thành từ năm 1985 cho đến nay, do năm 1985 ông T chủ đất của ông C cho rằng lối đi trên đất của ông L nên đã dịch chuyển lối đi qua đất ông từ năm 1985 cho đến nay, do không biết trên bản đồ địa chính lối đi nằm ở đâu nên khi ông T dịch chuyển lối đi như hiện nay thì ông L không có ý kiến phản đối. Phần đất ông L được cấp GCNQSDĐ năm 1993 thửa 452 diện tích 18.000m² sau đó chuyển lưới thành thửa 258 diện tích 6.175m².

Phần đất của ông C, bà P có nguồn gốc mua của T (không nhớ ngày mua) nhưng sử dụng từ năm 1985, khi mua đã có hiện trạng con đường như hiện nay. Ông C biết có việc tranh chấp lối đi giữa ông L và ông T nhưng cụ thể không biết. Năm 1995 ông C đã xây hàng rào lưới B40, năm 2008 xây nhà tường gạch giáp ranh.

[1.2] Các đương sự đều thống nhất lối đi hiện trạng đã có từ năm 1985, khi ông L cấp đổi GCNQSDĐ mới phát hiện lối đi hiện trạng nằm trong GCNQSDĐ của ông nên ông L mới khởi kiện yêu cầu ông C trả lại theo đúng GCNQSDĐ đã được cấp.

[1.3] Xét thấy: Lối đi được hình thành từ năm 1985, trước đây có 10 hộ sinh sống ở phía trong đi ra lối đi này, hiện nay còn khoảng 05 hộ, ông C đã xây hàng rào kiên cố làm ranh và căn nhà gạch giáp ranh, phía ông L có hàng tầm vong làm ranh. Các bên đã sử dụng ổn định, lâu dài trên 30 năm không ai tranh chấp. Cấp sơ thẩm căn cứ GCNQSDĐ chuyển lưới năm 2014 được cấp cho ông L, cho rằng lối đi không nằm trong GCNQSDĐ của L và căn cứ vào Công văn số 140/UBND ngày 16/5/2024 của UBND thị xã T cho rằng phần diện tích tranh chấp 330m² thuộc thửa 258, tờ bản đồ 27 không thể hiện lối đi trên bản đồ địa chính và việc cấp GCNQSDĐ cho ông LA năm 2014 là đúng quy định của pháp luật để chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông L, bà A là không có căn cứ.

[1.4] Mặc khác tại Đơn bổ sung về nguồn gốc đất ông LA trình bày “………tháng 4 năm 1986 ông T thưa tôi để lấy đường xe. Lần 1 giải quyết tại ấp Bà N không thành. Tiếp tục giải quyết lần 2 có sự kết hợp của xã Đ và buộc tôi phải trả đường xe cho ông T và tôi đồng ý”.

[2] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông C, bà P về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, bà A.

Kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích 330m² thửa 258, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh ra khỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH054426 ngày 11/9/2014 do ông L, bà A đứng tên để làm lối đi chung.

Do yêu cầu không được chấp nhận nên ông L, bà A phải chịu chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ông LA là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

[3] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Dương Văn C, bà Nguyễn Thị P.

- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 158, Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 170 và 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, 12, 14, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn L, bà Nguyễn Thị Yến A đối với ông Dương Văn C, bà Nguyễn Thị P về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Đối với phần đất diện tích 330m² thửa 258, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
  2. Kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích 330m² thửa 258, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh ra khỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH054426 ngày 11/9/2014 do ông L, bà A đứng tên để làm lối đi chung.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông L, bà A

    Hoàn trả bà Nguyễn Thị Yến A số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu) đồng theo biên lai số 0026957 ngày 09 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.

    Chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản: Ông Ngô Văn L, bà Nguyễn Thị Yến A phải chịu số tiền 20.000.000 (mười triệu) đồng, ghi nhận đã nộp và chi phí xong.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông C, bà P không phải chịu.

    Hoàn trả cho bà P 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, theo biên lai thu số: 0015609 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND thị xã Trảng Bàng;
  • - CCTHADS thị xã Trảng Bàng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 414/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 414/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger