|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 414/2023/HS-ST
Ngày 22 - 12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Trao
Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 331/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 468/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Văn M, sinh 1993 tại tỉnh Kiêng Giang; nơi cư trú: 7 P, khu phố D, p. A, Tp . , tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn X (chết) và bà Danh Thị T; chưa có vợ con; tiền sự; tiền án: Không; nhân thân: Tại bản án số 169/2010/HSST ngày 23/11/2010, Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt Võ Văn M 15 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/10/2011; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/10/2023 (có mặt).
· Bị hại: Chị S H' T1, sinh năm 1994 (có mặt)
Nơi cư trú: 237/8 Phan Tru T2, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn M và chị Siêu H (sinh năm 1993) cùng làm việc tại xưởng Pin của công Center Power T3 thuộc khu công nghiệp B, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Quá trình làm việc, M và chị T1 có quan hệ tình cảm với nhau. Sau đó, chị T1 biết M đang sống chung như vợ chồng với Nông Bích T4, sinh năm 1993 nên giữa Mỹ và chị T1 xảy ra mâu thuẫn với nhau và chia tay nhau.
Vào khoảng 19 giờ ngày 14/7/2023, M và T4 ngồi chơi tại nhà của Trần Kim A ở ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì có một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) gọi điện thoại với M và hẹn đến công ty C đánh nhau. Đến 22 giờ cùng ngày, M lấy 01 con dao thái lan giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô 68S1-786.70 đi đến Công ty C tìm chị T1. Đến nơi, M cầm dao đi vào xưởng P nơi chị T1 đang làm việc xông vào đâm liên tiếp nhiều nhát trúng vào tay trái và đùi phải chị T1 gây thương tích rồi bỏ chạy. Ngày 14/7/2023, chị S H' T1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 68S1-786.70 của Võ Văn M.
Tại Kết luận giám định pháp y số 0833/KLTTCT-TTPYĐN ngày 17/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ xác định thương tích của chị S H’Thanh như sau: Sẹo cổ tay trái, kích thước 02 x 0,2cm, tỷ lệ 01%; sẹo lòng bàn tay trái hình chữ T, kích thước 3,4 x 0,2cm, tỷ lệ 01%; sẹo mặt lòng đốt giữa ngón 4 bàn tay trái, kích thước 1,5 x 0,2cm, tỷ lệ 01%; sẹo mặt sau trong 1/3 dưới đùi phải, kích thước 4,5 x 0,3cm, tỷ lệ 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Siêu H’Thanh tại thời điểm giám định là 05%. Vật gây thương tích là vật sắc nhọn.
Tại bản Cáo trạng số: 329/CT.VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Võ Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện N giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo M về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự; xử phạt Võ Văn M từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù.
Về các biện pháp tư pháp: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền điều trị thương tích là 30.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên đề nghị ghi nhận.
Tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô biển số 68S1-786.70 của Võ Văn M để đảm bảo thi hành án.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về đi làm có tiền bồi thường cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo M khai nhận: Do có mâu thuẫn trong chuyện tình cảm với chị T1 trước đó. Ngày 14/7/2023 chị Nông Bích T4 đã xúi giục bị cáo tìm đánh chị T1 vì cũng có mâu thuẫn với T4. Đến khoảng 22 giờ, ngày 14/7/2023, bị cáo lấy 01 con dao thái lan giấu trong người rồi cùng T4 điều khiển xe mô tô 68S1-786.70 đi đến Công ty C tìm chị T1. Đến nơi, T4 ở ngoài giữ xe, bị cáo cầm dao đi vào xưởng P nơi chị T1 đang làm việc xông vào đâm liên tiếp nhiều nhát trúng vào tay trái và đùi phải chị T1 gây thương tích rồi bỏ chạy ra ngoài cùng T4 trốn thoát, đến ngày 01/10/2023 thì bị cáo bị bắt.
Việc bị cáo khai do T4 xúi giục và cùng đi với bị cáo gây thương tích cho chị T1, nhưng trong quá trình điều tra T4 không thừa nhận. Bị cáo cũng không có chứng cứ gì để chứng minh, nên không có căn cứ xác định T4 có vai trò đồng phạm trong vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận. Cơ quan điều tra không xử lý T4 là đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Văn M phạm tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại nơi xảy ra vụ án. Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì, nhưng bị cáo có hành vi dùng dao Thái lan đâm gây thương tích. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Theo kết luận giám định xác định tỷ lệ thương tích của chị T1 là 05%. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo tình tiết trên khi quyết định hình phạt.
[6] Về biện pháp tư pháp: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên ghi nhận. Xe mô tô biển số 68S1-786.70 của bị cáo Võ Văn M cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, các biện pháp tư pháp và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326, 327 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 590 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu ... sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Võ Văn M 1 (một) năm 2 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2023.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị T1 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu).
Tiếp tục tạm giữ xe mô tô biển số 68S1-786.70, số khung MH1KB1112MK311370, số máy KB11E1311008 của bị cáo Võ Văn M để đảm bảo việc thi hành án. Xe mô tô trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/12/2023.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: -TA tỉnh, VKS tỉnh ĐN; -VKS, CA, THA cùng cấp; -Bị cáo, bị hại; -Lưu hồ sơ, TA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
Bản án số 414/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 414/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tại phiên tòa bị cáo M khai nhận: Do có mâu thuẫn trong chuyện tình cảm với chị T1 trước đó. Ngày 14/7/2023 chị Nông Bích T4 đã xúi giục bị cáo tìm đánh chị T1 vì cũng có mâu thuẫn với T4. Đến khoảng 22 giờ, ngày 14/7/2023, bị cáo lấy 01 con dao thái lan giấu trong người rồi cùng T4 điều khiển xe mô tô 68S1-786.70 đi đến Công ty C tìm chị T1. Đến nơi, T4 ở ngoài giữ xe, bị cáo cầm dao đi vào xưởng P nơi chị T1 đang làm việc xông vào đâm liên tiếp nhiều nhát trúng vào tay trái và đùi phải chị T1 gây thương tích rồi bỏ chạy ra ngoài cùng T4 trốn thoát, đến ngày 01/10/2023 thì bị cáo bị bắt. Việc bị cáo khai do T4 xúi giục và cùng đi với bị cáo gây thương tích cho chị T1, nhưng trong quá trình điều tra T4 không thừa nhận. Bị cáo cũng không có chứng cứ gì để chứng minh, nên không có căn cứ xác định T4 có vai trò đồng phạm trong vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận. Cơ quan điều tra không xử lý T4 là đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Văn M phạm tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
