TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 414/2024/HS-ST
Ngày 22/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Chí Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hoa;
- Ông Phạm Văn Phước.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 399/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 431/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Trung D, sinh năm: 1983, tại Phú Yên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Bùi Văn T (đã chết) và bà Đoàn Thị N, sinh năm 1956.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/01/2019 đến ngày 31/01/2019.
Ngày 31/01/2019, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Ngày 27/9/2019, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T ra Quyết định truy nã số 12.
Ngày 06/4/2024, bị cáo bị bắt truy nã và bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 06/4/2024 tại nhà tạm giữ Công an thành phố T.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 14 giờ ngày 22/01/2019, Nguyễn Văn H, Võ Văn C, Hồ Minh Công K, Bùi Trung D, Trương Hoàng V, Đàm Văn P, Nguyễn Văn H1, Phùng Thị Lệ H2, Lê Thị Mỹ A, Lê Thị T1 rủ nhau đến bãi đất trống, sát nhà số D, đường số B, Khu phố B, phường B, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh làm cái xoay vòng đánh bài xì zách, để thắng thua bằng tiền với nhau. Cách thức đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài xì zách ăn thua bằng tiền là sử dụng 01 bộ bài tây 52 lá chia đều cho người chơi mỗi người 2 lá bài, số bài còn lại để trên chiếu bạc kéo. Nếu 2 lá bài tính tổng điểm từ 16 đến 21 thì được úp bài không kéo, còn dưới 16 thì kéo tiếp rồi tính tổng điểm, nếu từ 16 đến 21 điểm thì được úp bài, còn nếu trên 22 điểm thì “quắc” (tức là thua). Sau khi kéo bài xong, người làm cái xét bài tính điểm từ 16 đến 21, nếu người có bài số điểm cao hơn thì thắng người có bài điểm thấp. Ngoài ra, nếu kéo 5 lá bài tính điểm từ 21 trở xuống hoặc chia bài được 2 con át hay 01 con át và 01 con tây thì cái thắng tiền những người còn lại. Mỗi ván mỗi tụ đặt từ 30.000 đồng đến 100.000 đồng.
Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi Võ Văn C làm cái để Nguyễn Văn H, Võ Văn C, Hồ Minh Công K, Bùi Trung D, Trương Hoàng V, Đàm Văn P, Nguyễn Văn H1, Phùng Thị Lệ H2, Lê Thị Mỹ A, Lê Thị T1 đặt tiền đánh bạc trái phép với nhau thì bị Công an quận T kiểm tra, phát hiện lập biên bản bắt quả tang thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá và tổng số tiền 7.910.000 đồng dùng đánh bạc, gồm thu của: Thắm 3.140.000 đồng; P 1.750.000 đồng; V 1.020.000 đồng; H1 550.000 đồng; Mỹ Anh 470.000 đồng; Dăn 400.000 đồng; K 300.000 đồng; H2 300.000 đồng và thu của C 80.000 đồng.
Kết quả điều tra đã xác định được số tiền từng bị cáo bỏ ra để đánh bạc và thắng thua như sau:
Khi đánh bạc, Bùi Trung D bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, đã đánh được nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang bị thua số tiền 100.000 đồng và bị thu giữ 400.000 đồng;
Khi đánh bạc Lê Thị T1 bỏ ra số tiền 2.900.000 đồng để đánh bạc, làm cái 02 ván, đặt 02 ván, đến khi bị bắt quả tang T1 thắng số tiền 240.000 đồng và bị thu giữ 3.140.000 đồng;
Khi đánh bạc, Đàm Văn P bỏ ra số tiền 1.650.000 đồng để đánh bạc, đã đánh được nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang thì P thắng số tiền 100.000 đồng và bị thu giữ 1.750.000 đồng;
Khi đánh bạc, Trương Hoàng V bỏ ra số tiền 1.250.000 đồng để đánh bạc, đã đánh được nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang thì bị thua số tiền 230.000 đồng và bị thu giữ 1.020.000 đồng;
Khi đánh bạc, Lê Thị Mỹ A bỏ ra số tiền 770.000 đồng để đánh bạc, đã đánh được nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang thì bị thua số tiền 300.000 đồng và bị thu giữ 470.000 đồng;
Khi đánh bạc, Nguyễn Văn H1 bỏ ra số tiền 550.000 đồng để đánh bạc, đặt 50.000 đồng, chưa thắng thua thì bị bắt quả tang và bị thu giữ 550.000 đồng;
Khi đánh bạc, Nguyễn Văn H bỏ ra số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, đã đánh được nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang bị thua hết tiền;
Khi đánh bạc, Hồ Minh Công K bỏ ra số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, đã đánh được nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang chưa thắng chưa thua và bị thu giữ 300.000 đồng;
Khi đánh bạc, Phùng Thị Lệ H2 bỏ ra số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, chưa thắng thua thì bị bắt quả tang bị thu giữ 200.000 đồng;
Khi đánh bạc, Võ Văn C bỏ ra số tiền 180.000 đồng để đánh bạc, đã đánh được nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang thì bị thua số tiền 100.000 đồng và bị thu giữ 80.000 đồng.
Quá trình chuẩn bị xét xử, các bị can Lê Thị Mỹ A, Đàm Văn P, và Bùi Trung D bỏ trốn nên bị truy nã, còn Võ Văn C, Lê Thị T1, Trương Hoàng V, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H, Hồ Minh Công K, Phùng Thị Lệ H2 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xét xử bằng bản án số 48/2020/HSST ngày 03/3/2020;
Đến ngày 23/11/2021, bị can Lê Thị Mỹ A bị bắt truy nã, sau đó bị Tòa án dân nhân thành phố T xét xử bằng bản án số 119/2022/HSST ngày 13/4/2022. Còn bị can Đàm Văn P bị bắt truy nã vào ngày 10/12/2022 và bị Tòa án dân nhân thành phố T xét xử bằng bản án số 151/2023/HS- ST ngày 25/4/2023.
Đến ngày 06/4/2024, bị can Bùi Trung D bị bắt truy nã tại khu vực Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Tại Cơ quan điều tra, Bùi Trung D khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 bộ bài tây 52 lá (đã được xử lý theo Bản án số 48/2020 ngày 03/3/2020)
- Tổng số tiền dùng đánh bạc: 7.910.000 đồng (Bảy triệu chín trăm mười nghìn đồng). Trong đó thu của C: 80.000 đồng, K: 300.000 đồng, D: 400.000 đồng, V: 1.020.000 đồng, P: 1.750.000 đồng, H1: 550.000 đồng, H2: 200.000 đồng, Anh: 470.000 đồng, T1: 3.140.000 đồng. (Đã được xử lý theo Bản án số 48/2020 ngày 03/3/2020.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Bùi Trung D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Cáo trạng số: 385/CT-VKSTPTĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Bùi Trung D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Trung D từ 09 (chín) tháng tù đến 01 (một) năm tù.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Trung D phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định:
Vào khoảng 14 giờ ngày 22/01/2019, tại bãi đất trống, sát nhà số D, đường số B, Khu phố B, phường B, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Trung D có hành vi đánh bạc với Nguyễn Văn H, Võ Văn C, Hồ Minh Công K, Trương Hoàng V, Đàm Văn P, Nguyễn Văn H1, Phùng Thị Lệ H2, Lê Thị Mỹ A, Lê Thị T1 bằng hình thức đánh bài xì zách ăn thua bằng tiền là sử dụng 01 bộ bài tây 52 lá chia đều cho người chơi mỗi người 2 lá bài, số bài còn lại để trên chiếu bạc kéo. Nếu 2 lá bài tính tổng điểm từ 16 đến 21 thì được úp bài không kéo, còn dưới 16 thì kéo tiếp rồi tính tổng điểm, nếu từ 16 đến 21 điểm thì được úp bài, còn nếu trên 22 điểm thì “quắc” (tức là thua). Sau khi kéo bài xong, người làm cái xét bài tính điểm từ 16 đến 21, nếu người có bài số điểm cao hơn thì thắng người có bài điểm thấp. Ngoài ra, nếu kéo 5 lá bài tính điểm từ 21 trở xuống hoặc chia bài được 2 con át hay 01 con át và 01 con tây thì cái thắng tiền những người còn lại. Mỗi ván mỗi tụ đặt từ 30.000 đồng đến 100.000 đồng. Tổng số tiền Bùi Trung D sử dụng đánh bạc trái phép là 7.910.000 (Bảy triệu chín trăm mười nghìn) đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý
của Nhà nước và là nguy cơ dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ đánh bạc là tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng lười lao động, muốn có tiền nhanh để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng: Không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Trung D có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4]. Về xử lý vật chứng:
- 01 bộ bài tây 52 lá và số tiền dùng đánh bạc: 7.910.000 đồng (Bảy triệu chín trăm mười nghìn) đồng. Trong đó thu của C: 80.000 đồng, K: 300.000 đồng, D: 400.000 đồng, V: 1.020.000 đồng, P: 1.750.000 đồng, H1: 550.000 đồng, H2: 200.000 đồng, Anh: 470.000 đồng, T1: 3.140.000 đồng. (Đã được xử lý theo Bản án số 48/2020 ngày 03/3/2020). Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Áp dụng Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Bùi Trung D phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Trung D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2024 nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 22/01/2019 đến ngày 31/01/2019.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Trung D nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo Bùi Trung D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Đỗ Chí Quang |
Bản án số 414/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đánh bạc
- Số bản án: 414/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
