Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 414/2024/DS-PT

Ngày: 25-9-2024

V/v yêu cầu chia tài sản chung quyền

sử dụng đất, tranh chấp thừa kế

quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp

đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc

Ông Đặng Văn Những

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 19, 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 272/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Yêu cầu chia tài sản chung quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 272/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    • 1.1. Ông Trần Quan T, sinh năm 1957.
    • 1.2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1960.

    Cùng địa chỉ HKTT: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

  2. Bị đơn:
    • 2.1. Bà Lê Thị N, sinh năm 1930.

    Địa chỉ HKTT: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1993.

    Địa chỉ: TDP L, T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Theo văn bản ủy quyền ngày 25/5/2024).

    • 2.2. Ông Lê Văn S, sinh năm 1966.

    Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Bà Trần Thị B, sinh năm 1966 (có yêu cầu độc lập).
    • 3.2. Bà Trần Thị N1, sinh năm 1970 (có yêu cầu độc lập).

    Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

    • 3.3. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1984 (có yêu cầu độc lập)
    • 3.4. Bà Trần Thị X, sinh năm 1980 (có yêu cầu độc lập)
    • 3.5. Bà Trần Thị Ngọc T2, sinh năm 1975.
    • 3.6. Ông Võ Thành T3, sinh năm 1974.
    • 3.7. Bà Trần Thị T4, sinh năm 1961.

    Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An

    • 3.8. Ông Phạm Quốc T5, sinh năm 1967.

    Địa chỉ: Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An

    • 3.9. Ông Lê Văn B1, sinh năm 1971.
    • 3.10. Ủy ban nhân dân xã L. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
    • 3.11. Ông Võ Minh T6, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
    • 3.12. Võ Minh T7, sinh năm 2007. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Ngọc T2 (mẹ ruột).

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1.

(Bà L, ông S, bà B, bà N1 có mặt;

Các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện yêu cầu độc lập đề ngày 18 tháng 10 năm 2021 và đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 24/01/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/7/2023 và các lời trình bày tiếp theo do ông Ngô Văn N2 đại diện cho ông Trần Quan T và bà Nguyễn Thị Đ là nguyên đơn trong vụ án trình bày:

Cụ Trần Văn V (chết năm 2008) và cụ Lê Thị N (sống) có chung sống với nhau sinh ra được 05 người con:

  1. Ông Trần Quan T.
  2. Ông Trần Văn S1 (chết) có hai con là Trần Văn T1 và Trần Thị X.
  3. Ông Lê Văn S.
  4. Bà Trần Thị B.
  5. Bà Trần Thị N1.

Vợ chồng ông T là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất cất nhà ở ổn định trên thửa đất này từ trước năm 1975. Được sự đồng ý của cha mẹ của ông T là cụ Trần Văn V và cụ Lê Thị N có cho ông T cưới vợ (bà Đ) cho ra riêng cất nhà đối với diện tích 725.5 m² thuộc phần thửa 126, tờ bản đồ 17 tại xã L (theo hệ thống bản đồ mới thuộc một phần thửa số 7 tờ bản đồ 47 L), loại đất ONT. Hơn nữa, phần đất này là do ông Trần Quan T tự khai để quản lý sử dụng cất nhà ở liên tục từ đó đến nay.

Năm 1998 khi Nhà nước có chủ trương đăng ký quyền sử dụng đất thì cụ V đã đăng ký luôn phần của ông V và bà Đ đang cất nhà ở. Phần đất của ông T đã xây tường rào kiên cố và có ranh giới rõ ràng với phần đất của cụ V đã từ lâu. Khi phát hiện cụ V đăng ký đất thì ông T có yêu cầu cụ V tách quyền sử dụng đất nhưng vì bằng khoán thế chấp Ngân hàng chưa tách được. Ông T và bà Đ ở đến năm 1990, thì để cho con gái là bà Trần Thị Ngọc T2 và ông Võ Thành T3 kết hôn nên ông T tiếp tục để các con ở trên đất này cho đến nay. Ông T và bà Đ ra đường lộ cất nhà cách phần đất này khoảng 100 mét để kinh doanh trại hòm.

Lúc cụ V còn sống, ông T có nói với cụ V tách chuyển thẳng cho con gái bà Trần Thị Ngọc T2 và con rể ông Võ Thành T3 luôn vì ông T dự định chia cho con tên T2 phần đất này. Cụ V có đồng ý là ký tên trong tất cả thủ tục để con gái ông T đi đăng bộ. Con ông T là bà T2 chưa kịp cấp giấy đất thì cha ông T chết các anh chị em (ông S, bà B và bà N1) làm khó không chịu ký chuyển quyền cho con ông T là bà Trần Thị Ngọc T2 và liên tục gây khó khăn và yêu cầu lấy phần đất này của ông T để chia thừa kế.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu:

  1. Đề nghị Tòa án công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ ông Trần Văn V (chết có người thừa kế là Lê Văn S, Lê Thị N, Trần Thị B, Trần Thị N1, Trần Văn T1 và Trần Thị X), Lê Thị N với ông Trần Quan T và Nguyễn Thị Đ đối với diện tích 725.5 m² phần thửa số 7 tờ bản đồ 47 L (thửa mới theo hệ thống bản đồ mới) thuộc phần thửa 126, tờ bản đồ 17 L (theo hệ thống bản đồ cũ), loại đất ONT xảy ra từ năm 1976.
  2. Ông T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa giải quyết thửa số 126, 623 tờ bản đồ số 17, xã L (nay là thửa số 7 tờ bản đồ 47 xã L) đất do cha ông Trần Văn V được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/01/1998 sau khi trừ ra diện tích 725.5 m² phần thửa số 7 tờ bản đồ 47 L (thửa mới theo hệ thống bản đồ mới) thuộc phần thửa 126, tờ bản đồ 17 L (theo hệ thống bản đồ cũ). Loại đất ONT. Phần còn lại của 126, 623 tờ bản đồ số 17, xã L (nay là thửa số 7 tờ bản đồ 17 xã L) ông T yêu cầu xin chia thừa kế theo quy định pháp luật.
  3. Ngoài ra đối với yêu cầu của ông T và bà Đ đề nghị công nhận cho ông bà thửa 159 tờ bản đồ 17 Lộc Giang có diện tích 70m². Loại đất ONT và phần thửa 127 diện tích 91m² (thửa mới là phần thửa số 7 – TBĐ số 47) tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An loại đất HNK. Nay ông T và bà Đ rút lại yêu cầu này.

Bị đơn bà Lê Thị N do ông Nguyễn Văn G đại diện trình bày (tại Tòa án cấp sơ thẩm):

Ông thống nhất ý kiến của người đại diện ông T về mối quan hệ huyết thống giữa ông T và bà N. Bà N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của T về việc công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 725.5 m² phần thửa số 7 tờ bản đồ 47 L (thửa mới theo hệ thống bản đồ mới) thuộc phần thửa 126, tờ bản đồ 17 L (theo hệ thống bản đồ cũ). Loại đất ONT. Bởi vì vợ chồng bà N không có lập hợp đồng tặng cho nào với ông T, bà Đ diện tích đất nói trên. Vợ chồng bà có quyền sử dụng đất có diện tích 4.360m² tại các thửa 126, 623 tờ bản đồ 17 tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An và có cất nhà ở trực tiếp canh tác, sử dụng liên tục từ giải phóng 1975 cho đến nay, ông V đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số L543112, vào sổ giấy chứng nhận QSD đất số 1449/QSDĐ/0701.LA ngày 05/1/1998 của UBND huyện Đ, tỉnh Long An.

Sau khi ông Trần Văn V chết toàn bộ quyền sử dụng đất trên do bà N trực tiếp quản lý, sử dụng. Năm 2013, ông T có xin bà cho cất mái che để che cây dần dần ông T cấp nhà cất 4 như hiện nay (phần đất mà ông T đang cất trại hòm). Năm 2016 ông S1 có xin bà N cất nhà ở, bà N đồng ý để cho cất ở, ông S1 chết các con ông S1 là T1 và X đang ở. Năm 2007, bà T2 con ông T có xin bà N cất chòi để ở, ông V, bà N đồng ý, nhưng quá trình ở khoảng 2015, 2016 vợ chồng T2, T3 cất nhà ở kiên cố như hiện nay. Năm 2006, chồng bà N là ông V có giấy tay cho ông S một phần đất để cất nhà ở với diện tích khoảng 30m², ông S cất nhà ở như hiện nay.

Nay bà Lê Thị N có đơn yêu cầu:

  1. Hủy đơn xin xác nhận có đất nhà ở của bà trần Thị Ngọc T2 ngày 28/10/2008 có UBND xã L xác nhận.
  2. Buộc ông Trần Quan T tháo dỡ nhà trả đất ngang 9m x 20m phần thửa số 127, 159 tờ bản đồ số 17 xã L và công nhận quyền sử dụng đất thuộc phần thửa 127 có diện tích 139m² và phần thửa 159 có diện tích 91m² thuộc tờ bản đồ 17 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An là của bà N và ông V. Đồng thời hủy phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T5 là thửa 159 tờ bản đồ số 17 (có diện tích 91m²) xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (thửa mới là phần thửa số 7 – TBĐ số 47 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Do hiện nay phần đất này liên quan đến Thánh thất cao đài (tổ chức tôn giáo) nên ông đại diện bà N đồng ý để Tòa án tách phần đất này giải quyết sau, chưa yêu cầu trong vụ án này;
  3. Ông thay đổi yêu cầu là trước đây bà N có yêu cầu ông T3 và bà T2 tháo dỡ nhà thì nay là không yêu cầu bà Trần Thị Ngọc T2 và ông Võ Thành T3 tháo dỡ nhà trả đất 28m x dài 24m phần thửa số 07 tờ bản đồ số 47 tại xã L (thửa cũ là 126, 623 TBĐ số 17 tại xã L). Phần đất này bà N đồng ý chia thừa kế ông T nên phần đất ông T được chia gắn liền với nhà con ông T ở nên không cần phải tháo dỡ;
  4. Công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất do ông Trần Văn V đứng tên có diện tích qua đo đạc thực tế là 3.824 m² thuộc thửa số 126, 623 TBĐ số 17 (thửa mới là thửa số 7, TBĐ số 47 tại xã L là tài sản chung của bà N, ông V. Bà N yêu cầu được hưởng ½ tài sản trên. Phần tài sản ½ còn lại của ông V chia thừa kế theo qui định pháp luật là 06 phần bằng nhau, bà N hưởng một phần.

Bị đơn ông Lê Văn S trình bày: Ông thống nhất về mối quan hệ huyết thống giữa ông với ông T như đại diện ông T trình bày là đúng. Ông đồng ý yêu cầu khởi kiện của mẹ ông bà Lê Thị N, ông không đồng ý yêu cầu ông T về việc công nhận cho ông T phần đất đối với diện tích 725.5 m² phần thửa số 7 tờ bản đồ 47 L (thửa mới theo hệ thống bản đồ mới) thuộc phần thửa 126, tờ bản đồ 17 L (theo hệ thống bản đồ cũ), loại đất ONT. Ông có yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất là di sản của ông Trần Văn V chết để lại theo quy định pháp luật, ông xin được ưu tiên nhận đất có gắn liền với nhà ông đang ở.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tên bà Trần Thị N1 và Trần Thị B trình bày: Các bà thống nhất với ý kiến của ông Lê Văn S nói trên. Các bà có yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất là di sản của ông Trần Văn V chết để lại theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1 và Trần Thị X trình bày: Ông bà là con ông Trần Văn S1 (chết) cháu nội cụ V và cụ N. Ông bà thống nhất với ý kiến của ông Lê Văn S nói trên. Các ông bà có yêu cầu chia thừa kế thế vị quyền sử dụng đất của cụ V chết để lại theo quy định của pháp luật, ông bà xin ưu tiên nhận phần đất gắn liền với nhà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quốc T5 trình bày: Phần thửa 159 có diện tích 91m² thuộc tờ bản đồ 17 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An ông đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T lấn chiếm cất nhà ở. Ông yêu cầu ông T trả lại. Tuy nhiên phần đất này ông S và bà N cũng cho rằng là đất của ông V. Ngoài ra Thánh thất cao đài L cũng cho rằng đất cao đài nên ông đồng ý tách ra xử lý sau.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Thành T3 và bà Trần Thị Ngọc T2 (con gái và rể ông T và bà Đ) trình bày: Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2020, ông bà cho rằng năm 1987 ông bà nội của bà T2 là ông Trần Văn V và bà Lê Thị N có cho ông T và bà Đ (cha mẹ của bà T2) phần đất khoảng 1.200m2 tại ấp L, xã L cất nhà ở. Năm 1992, ông T và bà Đ có để lại phần đất này cho vợ chồng bà cất nhà ở có Ban quản lý ấp xác nhận cho vợ chồng ông bà đăng ký sổ hộ khẩu thường trú từ năm 2009. Năm 2014, ông bà có nhu cầu đăng ký đất thì ông Lê Văn S và Trần Thị N1 không có cho đăng ký. Từ đó ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận cho vợ chồng ông bà được đăng ký phần đất khoảng 1.200 m² thuộc thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L loại đất ONT và đất vườn tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Quá trình ông bà khởi kiện tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành thẩm định thì phía ông S, cụ N cũng xác định ranh giới rõ ràng. Tuy nhiên sau đó các ông bà S, N, B, N1 có yêu cầu chia thừa kế và yêu cầu lấy phần đất nhà đất của cha ông bà (ông T) chia thừa kế luôn. Do đó cha mẹ của ông bà là ông T và bà Đ có khởi kiện trong vụ án này nên ông bà rút lại yêu cầu khởi kiện. Ông bà không có yêu cầu khởi kiện trong vụ án này. Khi nào ông T và bà Đ có được quyền sử dụng đất này sẽ cho lại vợ chồng ông bà. Nếu ông T và bà Đ không được quyền sử dụng đất này thì ông bà sẽ khởi kiện lại các ông bà Ngôi, S, B, N1, T1 và X trong vụ án khác. Đồng thời ông bà có yêu cầu xin xét xử vắng mặt.

Ông Võ Minh T6 (con bà T2 và ông T3) không có ý kiến tranh chấp gì trong vụ án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã L trình bày: Ngày 28/10/2008 UBND xã L có xác nhận vào đơn xin xác nhận có đất cả ở của bà Trần Thị Ngọc T2, hộ khẩu thường trú ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An tại thửa 126, 623 tờ bản đồ 17 đất tọa lạc ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Theo đó, nguồn gốc đất của các thửa đất nêu trên cho ông Trần Văn V được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành 543112 số vào sổ 1449, cấp ngày 05/01/1998 trên cơ sở đó UBND xã L xác nhận vào đơn ngày 28/10/2008 với mục đích giúp người dân đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Riêng chữ ký của ông Trần Văn V thì UBND không xác định được do công chức không còn công tác tại địa phương nên UBND xã không nắm rõ. Về cử người tham gia tố tụng: UBND xã L xin xét xử vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 271, Điều 273, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 100, Điều 166, Điều 167, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 219; Điều 649, Điều 650, Điều 660, Điều 651, Điều 623, Điều 468 và Điều 615 Bộ luật dân sự; Án lệ số 52/2021 thông qua ngày 25/11/2021; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quan T bà Nguyễn Thị Đ về việc “Công nhận hiệu lực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” với ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1, ông Trần Văn T1, Trần Thị X và cụ Lê Thị N.
  2. Ông Trần Quan T và bà Nguyễn Thị Đ được liên hệ cơ quan có thẩm quyền kê khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích 643m². Loại đất BHK. Trên đất có nhà con gái Trần Thị Ngọc T2 và con rể Võ Thành T3. Vị trí đất tại khu A của Mãnh trích đo phân khu ngày 23/01/2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phân khu dựa trên Mãnh trích đo chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ lập ngày 15/5/2023.

  3. Chấp nhận yêu cầu ông Trần Quan T về việc: “Chia thừa kế quyền sử dụng đất” với ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1, ông Trần Văn T1, Trần Thị X và cụ Lê Thị N.
  4. Ông Trần Quan T và bà Nguyễn Thị Đ được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất cụ V với số tiền là 299.984.200 đồng (do ông T1 và bà X có trách nhiệm giao lại)

    Buộc ông Trần Văn T1 và Trần Thị X liên đới giao cho ông Trần Quan T 299.984.200 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu chín trăm tám mươi tư ngàn hai trăm đồng).

  5. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị B về việc:“Chia thừa kế quyền sử dụng đất” với ông Trần Quan T, ông Lê Văn S, bà Trần Thị N1, ông Trần Văn T1, Trần Thị X và cụ Lê Thị N. Bà B được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất cụ V với số tiền là 303.109.000 đồng (do cụ N và ông S giao lại).
  6. Buộc cụ Lê Thị N hoàn cho bà Trần Thị B là 123.000.200 đồng;

    Buộc ông Lê Văn S có nghĩa vụ hoàn cho bà Trần Thị B 180.108.800 đồng.

  7. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N1 về việc: “Chia thừa kế quyền sử dụng đất” với ông Trần Quan T, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, ông Trần Văn T1, Trần Thị X và cụ Lê Thị N. Bà N1 được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất cụ V với số tiền là 303.109.000 đồng (do ông S, ông T1, bà X có trách nhiệm giao lại).
  8. Buộc ông Lê Văn S có nghĩa vụ hoàn cho bà N1 277.894.200 đồng;

    Buộc ông Trần Văn T1 và Trần Thị Xuân H cho bà N1 25.261.300 đồng.

  9. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn S về việc: “Chia thừa kế quyền sử dụng đất” với ông Trần Quan T, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1, ông Trần Văn T1, Trần Thị X và cụ Lê Thị N.
  10. Ông Lê Văn S được nhận hưởng phần đất có diện tích 682m² tại phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L. Loại đất BHK. Trên đất có nhà của ông. Vị trí đất tại khu B của Mãnh trích đo phân khu ngày 23/01/2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phân khu dựa trên Mãnh trích đo chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ lập ngày 15/5/2023.

  11. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T1 và Trần Thị X (con ông Trần Văn S1 đã chết) về việc: “Chia thừa kế quyền sử dụng đất” với ông Trần Quan T, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1, ông Lê Văn S và cụ Lê Thị N.
  12. Ông Trần Văn T1 và Trần Thị X được nhận hưởng phần đất có diện tích 563m² tại phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L. Loại đất BHK. Trên đất có nhà của ông bà. Vị trí đất tại khu G của Mãnh trích đo phân khu ngày 23/01/2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phân khu dựa trên Mãnh trích đo chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ lập ngày 15/5/2023.

  13. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Lê Thị N về việc: “Chia tài chung quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất” với ông Trần Quan T, Lê Văn S, Trần Văn T1, Trần Thị X, Trần Thị N1 và Trần Thị B.
  14. Cụ Lê Thị N được hưởng quyền sử dụng đất tại phần thửa 126 và 623 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích tại phần thửa 623 có diện tích 444m² loại ONT và phần thửa 126 có diện tích sau khi trừ phần đất có gắn liền mồ mã là 1.056,2m² loại BHK. Trên đất có nhà của cụ N. Vị trí đất tại khu C, D, E, F và H của Mãnh trích đo phân khu ngày 23/01/2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phân khu dựa trên Mãnh trích đo chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ lập ngày 15/5/2023.

    Các ông bà: cụ N, ông S, ông T1 và bà X được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

  15. Không chấp nhận yêu cầu cụ Lê Thị N về việc: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất” với ông Trần Quan T, Nguyễn Thị Đ, Trần Thị Ngọc T2 và Võ Thành T3 đối với phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích 643m². Loại đất BHK.
  16. Đình chỉ yêu cầu cụ Lê Thị N về việc yêu cầu ông T3 và bà T2 tháo dỡ nhà phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích 643m². Loại đất BHK.
  17. Đình chỉ yêu cầu của ông Võ Thành T3 và bà Trần Thị Ngọc T2 về việc: “Công nhận quyền sử dụng đất” đối với ông Trần Văn S2 tại phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích 643m². Loại đất BHK.
  18. Dành phần đất làm lối đi chung cho hộ cụ N, ông T1, bà X, ông S2 tại phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích 342m². Loại đất BHK. Vị trí tại khu I của Mãnh trích đo phân khu ngày 23/01/2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phân khu dựa trên Mãnh trích đo chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ lập ngày 15/5/2023.
  19. Chấp nhận yêu cầu của cụ Lê Thị N về việc Hủy đơn xin xác nhận có đất nhà ở của bà trần Thị Ngọc T2 ngày 28/10/2008 có UBND xã L xác nhận.
  20. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T và bà Đ về việc yêu cầu công nhận phần thửa 127 diện tích 91m² và thửa 159 tờ bản đồ số 17 (có diện tích 70m²) xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (thửa mới là phần thửa số 7 – TBĐ số 47 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
  21. Tách yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quốc T5 về việc tranh chấp với ông Trần Quan T thửa 159 tờ bản đồ 17 Lộc Giang có diện tích 70m². Loại đất ONT (thửa mới là phần thửa số 7 – TBĐ số 47 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An bằng vụ án dân sự khác.
  22. Tách yêu cầu của ông Lê Văn S, Trần Thị N1, Trần Thị B và cụ Lê Thị N tranh chấp với ông Trần Quan T tại phần thửa 127 diện tích 91m² và thửa 159 tờ bản đồ số 17 (có diện tích 70m²) xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (thửa mới là phần thửa số 7 – TBĐ số 47 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An bằng vụ án dân sự khác.

  23. Về chi phí đo đạc, thẩm định, định giá:
    • 15.1. Ông Võ Thành T3 và bà Trần Thị Ngọc T2 tự nguyện chịu 16.500.000 đồng (đã nộp xong và chi phí hết);
    • 15.2. Ông T, bà Đ phải chịu 14.400.000 đồng (Mười bốn triệu bốn trăm ngàn đồng). Ông T và bà Đ nộp hoàn trả cho ông T3 và bà T2 là 14.400.000 đồng.
    • 15.3. Cụ N phải chịu 25.200.000 đồng (đã nộp xong);
    • 15.4. Ông S, bà N1, bà B mỗi người nộp 3.600.000 đồng. Ông S, bà B và bà N1 liên đới trả cho ông T3 và bà T2 9.600.000 đồng, trả cho bà N 1.200.000 đồng. Ông T1 và bà X liên đới trả cho bà N 3.600.000 đồng.
  24. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N4 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  25. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông cụ Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Quan T được miễn án phí.
  26. H lại ông Võ Thành T3, bà Trần Thị Ngọc T2 số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005166 ngày 14/5/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa.

    Ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, Trần Thị N1 mỗi người phải chịu 15.157.775 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

    Số tiền ông Lê Văn S có tạm ứng 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0006104 ngày 24/8/2020 được khấu trừ vào án phí. Ông S phải nộp thêm 12.657.775 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Số tiền bà Trần Thị N1 có tạm ứng 2.500.000 đồng theo biên lai số 0006101 ngày 24/8/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa được khấu trừ vào án phí. Như vậy bà N1 còn phải nộp tiếp 12.657.775 đồng án phí.

    Ông Trần Văn T1 và Trần Thị X liên đới nộp 15.157.775 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền ông T1 và bà X có tạm ứng 2.500.000 đồng theo biên lai số 0006103 ngày 24/8/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa được khấu trứ vào án phí. Như vậy ông T1 và bà X phải nộp thêm 12.657.775 đồng.

    Số tiền bà Trần Thị B có tạm ứng 2.500.000 đồng theo biên lai số 0006102 ngày 24/8/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa được khấu trừ vào án phí. Như vậy bà B còn phải nộp tiếp 12.657.775 đồng án phí.

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn về quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

    Ngày 06/02/2024, cụ Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1 kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị L là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N trình bày:

Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông T là không có căn cứ. Thửa đất 126 là tài sản chung của cụ V và cụ N. Trước năm 1990, thì cụ V và cụ N chỉ cho ông T, ông S và ông S1 để cất nhà ở sinh sống, chưa chia đất cho các con, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng án lệ là không phù hợp. Bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc công nhận hợp đồng tặng cho đối với phần đất 643m².

Ngoài ra, việc Tòa án cấp sơ thẩm dành phần đất có diện tích 342m² để làm lối đi chung thì các đương sự không đồng ý. Vì thực tế bà N, ông S, ông T1, bà X không sử dụng phần đất này để làm lối đi, các đương sự hiện đang sử dụng lối đi phía Thánh Thất C, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia thừa kế luôn phần đất 342m².

Đối với phần di sản của cụ V chia thừa kế theo quy định của pháp luật thành 06 phần bằng nhau, phần còn lại của cụ N cụ N đồng ý cho mỗi người con gồm ông S, bà B, bà N1, ông S1 mỗi người 200 m², riêng đối với ông T cụ N chỉ đồng ý tặng cho ông T 200m² thuộc một phần thửa 126 trong trường hợp Tòa án bác toàn bộ yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ V và ông T đối với phần đất diện tích 715m².

Sau khi chia thừa kế phần của cụ V và cụ N cho thêm mỗi người con phần đất có diện tích 200m², chia đất đều cho 5 người con, người nào nhận phần đất nhiều hơn phần mình được hưởng thì thanh toán lại giá trị đất cho cụ N để dưỡng già.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1.

Ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1 trình bày: Các ông bà thống nhất lời trình bày của nguyên đơn. Các ông bà đồng ý trong trường hợp được nhận phần đất nhiều hơn phần mình được hưởng thì thanh toán lại giá trị đất cho cụ N để dưỡng già.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1 đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Qua xem xét hồ sơ vụ án và yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1, nhận thấy:

Cụ Trần Văn V (chết năm 2008) và cụ Lê Thị N (còn sống) có chung sống với nhau sinh ra được 05 người con: 1/ Ông Trần Quan T; 2/ Trần Văn S1 (chết 2018 – vợ Nguyễn Thị Ô chết 2011, có hai con là Trần Văn T1 và Trần Thị X); 3/ Lê Văn S; 4/ Trần Thị B và 5/ bà Trần Thị N1.

Các đương sự tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 4.360m², loại đất ONT và BHK thuộc các thửa 126 và 623 tờ bản đồ 17 xã L, huyện Đ, tỉnh Long An, diện tích đo đạc thực tế theo Mảnh trích đo ngày 15/5/2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ đo đạc có diện tích là 3.784m², đất được UBND huyện Đ cấp cho cụ V vào ngày 05/01/1998 (thửa mới số 7 tờ bản đồ 47 xã L).

Xét thấy,

- Về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích đo thực tế 715m² thuộc phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L:

Ông T bà Đ cho rằng phần đất diện tích 725,5m², diện tích đo đạc thực tế 643m² thuộc một phần thửa số 7 tờ bản đồ 47 Lộc Giang (thửa cũ thuộc phần thửa 126, tờ bản đồ 17 L, loại đất HNK) là của cha mẹ ông là cụ V và cụ N cho vợ chồng ông ra riêng cất nhà ở. Đất do ông tự khai khẩn, vợ chồng ông là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất cất nhà ở ổn định trên thửa đất này từ trước năm 1975. Đến năm 1998 khi Nhà nước có chủ trương đăng ký quyền sử dụng đất thì cụ V đã đăng ký luôn phần của vợ chồng ông đang cất nhà ở do ông đi làm xa, khi phát hiện thì ông có yêu cầu cụ V tách quyền sử dụng đất nhưng vì bằng khoán thế chấp Ngân hàng chưa tách được (GCNQSD đất không thể hiện việc thế chấp ngân hàng). Trình bày của ông T có sự mâu thuẫn khi cho rằng cha mẹ cho vợ chồng ông ra riêng cất nhà đối với diện tích 725,5m² thuộc một phần thửa số 7 (thửa cũ là một phần thửa 126, tờ bản đồ 17 L) là thừa nhận đất có nguồn gốc của cha mẹ cho nhưng sau đó ông lại trình bày phần đất này là do ông tự khai khẩn. Như vậy có cơ sở xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ V và cụ N.

Về việc sử dụng đất: Ông T bà Đ thừa nhận ở trên đất đến năm 1990 thì ra đường cất trại hòm cách phần đất này khoảng 100 mét để kinh doanh, để phần đất tranh chấp lại cho vợ chồng bà T2 ở.

Bà T2 trình bày năm 1992 cha mẹ bà là ông T bà Đ để lại cho bà phần đất cho vợ chồng bà cất nhà ở. Tuy nhiên, trình bày của bà T2 mâu thuẫn với Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/2/2020 của bà về năm vợ chồng bà T2 cất nhà, theo đơn thì bà trình bày “Năm 2008 vợ chồng tôi được ông N3 là ông Trần Văn D cho phần đất để cất nhà ở. Phần đất này thuộc tờ bản đồ số : 17, thửa đất số : 126 (mpt); diện tích : 700 mét vuông; Loại đất thổ...“ và Biên bản xác minh nguồn gốc đất ngày 12/5/2020 của UBND xã L “Hội đồng đăng ký QSDĐ xã L đã kiểm tra xác minh nguồn gốc đất, các diễn biến đất đai của ông Võ Thành T3 trên tờ bản đồ, bộ sổ địa chính và thực địa như sau: ông bà sử dụng ổn định từ năm 1975 đến năm 2000 cho cháu là ông Võ Thành T3 và bà Trần Thị Ngọc T2 sử dụng ổn định đến nay...”.

Bà T2 cho rằng cụ V cho vợ chồng bà phần đất tranh chấp và cung cấp Đơn xin xác nhận có đất nhà ở ngày 28/10/2008 của bà T2 có nội dung “Tôi tên Trần Thị Ngọc T2... nguyên ông nội cho đất cất nhà ở DT=700m² (Bảy trăm mét vuông) thuộc ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Tôi cam đoan đất cất nhà của tôi không ai tranh chấp... Lý do: để tôi bổ túc hồ sơ xin tách, nhập hộ khẩu... ý kiến của người giao đất Tôi đồng ý giao cho cháu nội số đất trên làm chủ sử dụng vĩnh viễn. Trần Văn V ký tên“. Tuy nhiên, theo Giấy chứng tử số 51 quyển số 01/2008 của UBND xã L thì cụ V đã chết ngày 16/7/2008 do bệnh nên không thể căn cứ vào Đơn xin xác nhận có đất cất nhà ở để xác định là cụ V có cho cháu là bà T2 phần đất tranh chấp trên.

Ông T cho rằng cụ V, cụ N cho ông bà phần đất trên từ trước năm 1975 nhưng không cung cấp được hợp đồng tặng cho, bà N không thừa nhận có việc tặng cho riêng này mà chỉ là chỉ đất để ông T bà Đ cất nhà ở, năm 1998 ông V được cấp GCNQSD đất thì ông T cho rằng có yêu cầu cụ V tách phần đất này cho ông nhưng không có chứng cứ chứng minh. Ông T sử dụng đất đến năm 1990 cho đến khoảng năm 2000-2008 thì con ông T là bà T2 cất nhà ở trên đất, bà T2 cho rằng cụ V cho vợ chồng bà đất làm chủ sử dụng vĩnh viễn nhưng chứng cứ bà T2 cung cấp là Đơn xin xác nhận có đất cất nhà ở ngày 28/10/2008 không cũng không phù hợp do cụ V đã chết trước đó, cụ N cũng không thừa nhận có cho vợ chồng bà T2 ông T3 phần đất này.

Ngoài ra, trên thửa 126 còn có nhà của ông Lê Văn S là một trong các con của cụ V cụ N cũng được hai cụ cho cất nhà trên đất năm 2006 (ông S thừa nhận tại Biên bản phiên tòa), theo ông S thì ông có xin cha mẹ để cất nhà trên đất, cha mẹ không có làm giấy tờ tặng cho đất cho ông mà chỉ cho ông cất nhà ở, ông yêu cầu nhận thừa kế 300m² đất có nhà ở của ông. Ông S cũng cất nhà trên đất như ông T hay bà T2 nhưng ông S xác nhận không có việc tặng quyền sở hữu phần đất này cho ông, chỉ cho ở không cho luôn.

Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ V và cụ N, hai cụ có cho các con cất nhà ở nhưng không có việc tặng cho quyền sử dụng đất cho ông T bà Đ nên yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích đo thực tế 643m² thuộc phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L là không có căn cứ, kháng cáo của cụ N có cơ sở chấp nhận.

- Về yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất:

Các đương sự xác định khi cụ V mất không để lại di chúc, cụ N hiện còn sống xác định chưa phân chia thừa kế. Do đó, có cơ sở để khẳng định ½ diện tích đất thuộc thửa 126, 623 là di sản do cụ V chết để lại và là tài sản sản chung của cụ V và cụ N, yêu cầu của cụ N được hưởng ½ diện tích đất trong khối tài sản chung thuộc hai thửa đất trên là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.

Đối với ½ diện tích đất còn lại thuộc các thửa đất nêu trên, các đương sự xác định gồm 06 kỷ phần thừa kế, phần của ông S1 đã chết do bà X và ông T1 hưởng.

Trong quá trình xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, ngày 9/9/2024 cụ N có Tờ tường trình đồng ý tặng cho phần tài sản của cụ là một phần thửa 126 cho các thừa kế còn lại mỗi người 200m², riêng đối với ông T cụ chỉ đồng ý tặng cho ông T 200m² thuộc một phần thửa 126 trong trường hợp Tòa án bác toàn bộ yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ V và ông T đối với phần đất diện tích 643m² thuộc một phần thửa 126. Theo nhận định ở trên không chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ V và ông T nên 05 người con của cụ V được hưởng thêm 200m² đất thuộc thửa 126 do cụ N tặng. (Tổng cộng mỗi người được hưởng 500m² loại đất BHK, đủ điều kiện tách thửa theo Điều 9 Quyết định số 42/2021/QĐ-UBND 18/10/2021 của UBDN tỉnh L: diện tích tối thiểu tách thửa đối với các loại đất nông nghiệp còn lại là 500m²).

Theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 19/8/2024, về hiện trạng đường đi vào nhà ông T1 và bà X, nhà cụ N, nhà ông S, các đương sự xác định lối đi tại khu I thuộc một phần thửa 126 có diện tích 342m² mà Bản án sơ thẩm đã tuyên “Dành phần đất làm lối đi chung cho hộ cụ N, ông T1, bà X, ông S tại phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích 342m², loại đất BHK”. Vị trí tại khu I của Mãnh trích đo phân khu ngày 23/01/2024, thực tế phần khu I không phải là lối đi, các đương sự sử dụng lối đi bên cạnh Thánh thất C. Các đương sự thống nhất không sử dụng lối đi tại vị trí khu I và không yêu cầu mở lối đi thuộc thửa 126. Do các đương sự không yêu cầu dành lối đi chung nên Tòa sơ thẩm dành phần diện tích đất 342m² làm lối đi là giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự, phần đất này sẽ được chia lại theo yêu cầu của đương sự nên đề nghị sửa án về phần này.

Bản án sơ thẩm tuyên “Chấp nhận yêu cầu của cụ Lê Thị N về việc Hủy đơn xin xác nhận có đất nhà ở của bà Trần Thị Ngọc T2 ngày 28/10/2008 có UBND xã L xác nhận” là không phù hợp cần phải sửa lại do đây là tài liệu chứng cứ do đương sự nộp, không phải là văn bản hành chính của cơ quan nhà nước, nội dung đơn này để bà T2 bổ túc hồ sơ xin tách, nhập hộ khẩu, Tòa án sẽ xem xét đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của cụ Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, sửa một phần bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của cụ Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quan T, bà nguyễn Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; Ông Trần Văn T1, bà Trần Thị X, bà Trần Thị Ngọc T2, ông Võ Thành T3, bà Trần Thị T4, ông Phạm Quốc T5, ông Lê Văn B1, Ủy ban nhân dân xã L, ông Võ Minh T6, ông Võ Minh T7 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với một phần đất thuộc thửa 126, yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 126, 623, tờ bản đồ số 17 tọa lạc xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Lê Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

[4] Xét kháng cáo của bị đơn cụ Lê Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1, thấy rằng:

[4.1] Các đương sự trình bày thống nhất:

Cụ Trần Văn V (chết năm 2008) và cụ Lê Thị N (còn sống) là vợ chồng, cụ V và cụ N chung sống với nhau sinh ra được 05 người con:

  1. Ông Trần Quan T;
  2. Ông Trần Văn S1 (chết 2018 – vợ Nguyễn Thị Ô chết 2011). Hàng thừa kế của ông S1 gồm có hai con là ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị X);
  3. Ông Lê Văn S;
  4. Bà Trần Thị B;
  5. Bà Trần Thị N1.

[4.2] Tài sản các đương sự tranh chấp gồm thửa đất 126, diện tích 3.778m² loại đất BHK và thửa đất 623, diện tích 582m², loại đất thổ, cùng tờ bản đồ 17, tọa lạc tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An, do cụ Trần Văn V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/01/1998, cụ V chưa được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới.

Các đương sự thống nhất với M trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ đo vẽ, ký duyệt ngày 15/5/2023: thửa đất 126 có diện tích đo đạc thực tế là 3.340m² và thửa đất 623 có diện tích đo đạc thực tế là 444m², tổng diện tích 3.784m².

Theo Mảnh trích đo phân khu do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ lập ngày 09/9/2024, thì phần đất ông T, bà Đ yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho có diện tích 715m², phần ông S sử dụng có diện tích 814m² (Khu D), phần ông S1 (hiện ông T1, bà X đang sử dụng có diện tích 500m² (Khu A), bà N đang quản lý, sử dụng thửa đất 623; Khu 2 có diện tích 711m² (bao gồm diện tích mồ mã 50,8 m²) và Khu 3 có diện tích 600m² thuộc thửa 126 là đất trống.

Quá trình giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm các đương sự thống nhất giá trị tài sản như sau:

Thửa đất 126 (BHK) có giá là: 1.116.000 đồng/m².

Thửa đất 623 (ONT) có giá là: 2.401.000 đồng/m².

[5] Về nguồn gốc đất:

Xét về nguồn gốc thửa đất 126, diện tích 3.778m² loại đất BHK và thửa đất 623, diện tích 582m², loại đất thổ, cùng tờ bản đồ 17, tọa lạc tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An có diện tích đo đạc thực tế theo Mảnh trích đo ngày 15/5/2023 là 3.784m², đất được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Trần Văn V vào ngày 05/11/1998. Vì vậy có căn cứ xác định thửa đất 126 và 623 là tài sản chung của cụ Trần Văn V và cụ Lê Thị N.

[6] Đối với yêu cầu của ông Trần Quan T và bà Nguyễn Thị Đ (vợ ông T) yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích đo thực tế 643m² thuộc phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L:

[6.1] Ông T, bà Đ cho rằng phần đất diện tích 725,5m² thuộc một phần thửa số 126, tờ bản đồ 17, tại xã L là của cha mẹ ông là cụ V và cụ N cho vợ chồng ông ra riêng cất nhà ở. Đất do ông tự khai hoang, vợ chồng ông là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất cất nhà ở ổn định trên thửa đất này từ trước năm 1975. Đến năm 1998 khi Nhà nước có chủ trương đăng ký quyền sử dụng đất thì cụ V đã đăng ký luôn phần của vợ chồng ông đang cất nhà ở do ông đi làm xa, khi phát hiện thì ông có yêu cầu cụ V tách quyền sử dụng đất nhưng vì bằng khoán thế chấp Ngân hàng chưa tách được (GCNQSD đất không thể hiện việc thế chấp ngân hàng). Trình bày của ông T có sự mâu thuẫn khi cho rằng cha mẹ cho vợ chồng ông ra riêng cất nhà đối với diện tích 725,5m² là thừa nhận đất có nguồn gốc của cha mẹ cho nhưng sau đó ông lại trình bày phần đất này là do ông tự khai hoang. Như vậy có cơ sở xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ V và cụ N.

Về quá trình quản lý, sử dụng đất: Ông T, bà Đ trình bày ở trên đất đến năm 1990 thì ra đường cất trại hòm cách phần đất này khoảng 100 mét để kinh doanh, để phần đất tranh chấp lại cho vợ chồng bà T2 (con ruột) ở.

Bà T2 trình bày năm 1992 cha mẹ bà là ông T, bà Đ để lại cho bà phần đất cho vợ chồng bà cất nhà ở. Tuy nhiên, trình bày của bà T2 mâu thuẫn với Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/02/2020 của bà về năm vợ chồng bà T2 cất nhà, theo đơn thì bà trình bày “Năm 2008 vợ chồng tôi được ông N3 là ông Trần Văn D cho phần đất để cất nhà ở. Phần đất này thuộc tờ bản đồ số : 17, thửa đất số : 126 (mpt); diện tích : 700 mét vuông; Loại đất thổ...“ và Biên bản xác minh nguồn gốc đất ngày 12/5/2020 của Ủy ban nhân dân xã L “Hội đồng đăng ký QSDĐ xã L đã kiểm tra xác minh nguồn gốc đất, các diễn biến đất đai của ông Võ Thành T3 trên tờ bản đồ, bộ sổ địa chính và thực địa như sau: ông bà sử dụng ổn định từ năm 1975 đến năm 2000 cho cháu là ông Võ Thành T3 và bà Trần Thị Ngọc T2 sử dụng ổn định đến nay...”.

Bà T2 cho rằng cụ V cho vợ chồng bà phần đất tranh chấp và cung cấp Đơn xin xác nhận có đất nhà ở ngày 28/10/2008 của bà T2 có nội dung “Tôi tên Trần Thị Ngọc T2... nguyên ông nội cho đất cất nhà ở DT=700m² (Bảy trăm mét vuông) thuộc ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Tôi cam đoan đất cất nhà của tôi không ai tranh chấp... Lý do: để tôi bổ túc hồ sơ xin tách, nhập hộ khẩu..., ý kiến của người giao đất tôi đồng ý giao cho cháu nội số đất trên làm chủ sử dụng vĩnh viễn. Trần Văn V ký tên”. Tuy nhiên, theo Giấy chứng tử số 51 quyển số 01/2008 của UBND xã L thì cụ V đã chết ngày 16/7/2008 do bệnh nên không thể căn cứ vào Đơn xin xác nhận có đất cất nhà ở để xác định là cụ V có cho cháu là bà T2 phần đất tranh chấp trên.

Ông T cho rằng cụ V, cụ N cho ông bà phần đất trên từ trước năm 1975 nhưng không cung cấp được hợp đồng tặng cho, cũng không có ai làm chứng có việc vụ V và cụ N tặng cho đất ông T, cụ N hiện còn sống không thừa nhận có việc tặng cho riêng này mà chỉ là chỉ đất để ông T bà Đ cất nhà ở, năm 1998 ông V được cấp GCNQSD đất thì ông T cho rằng có yêu cầu cụ V tách phần đất này cho ông T nhưng không có chứng cứ chứng minh. Ông T sử dụng đất đến năm 1990 cho đến khoảng năm 2000-2008 thì con ông T là bà T2 cất nhà ở trên đất, bà T2 cho rằng cụ V cho vợ chồng bà đất làm chủ sử dụng vĩnh viễn nhưng chứng cứ bà T2 cung cấp là Đơn xin xác nhận có đất cất nhà ở ngày 28/10/2008 không cũng không phù hợp do cụ V đã chết trước đó, cụ N cũng không thừa nhận có cho vợ chồng bà T2 ông T3 phần đất này.

Ngoài ra, trên thửa 126 còn có nhà của ông Lê Văn S là một trong các con của cụ V, cụ N cũng được hai cụ cho cất nhà trên đất trước năm 1990, theo ông S thì ông có xin cha mẹ để cất nhà trên đất, cha mẹ không có làm giấy tờ tặng cho đất cho ông mà chỉ cho ông cất nhà ở, ông yêu cầu nhận thừa kế 300m² đất có nhà ở của ông. Ông S cũng cất nhà trên đất như ông T hay bà T2 nhưng ông S xác nhận không có việc tặng quyền sử dụng phần đất này cho ông, chỉ cho ở không cho luôn và trên thửa 126 cũng cho ông S1 một phần để cất nhà ở (hiện nay con ông S1 là ông T1 và bà X đang sử dụng).

Theo quy định tại Điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015:

  1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.
  2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Do đó, việc ông T, bà Đ yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho có hiệu lực là không có căn cứ.

[6.2] Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng án lệ số 52/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021, Án lệ có nội dung: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được lập thành văn bản đã được công chứng, chứng thực; bên được tặng cho chưa đăng ký quyền sử dụng đất do trở ngại khách quan thì bên tặng cho tài sản chết, thì phải công nhận hiệu lực của hợp đồng; khi hợp đồng có đủ các điều kiện đó là: Hợp đồng đã thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật về quyền tặng cho quyền sử dụng đất; Cho đến khi chết, người tặng cho tài sản không có văn bản nào để thay thế hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết trước đó và không có hành động nào thể hiện sự thay đổi ý chí đã thể hiện tại hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết; Người được tặng cho tài sản không thực hiện được việc đăng ký tài sản (quyền sử dụng đất) là do trở ngại khách quan về thủ tục hành chính (hoặc do trở ngại khách quan khác), không phải do ý chí chủ quan của người tặng cho tài sản”.

Trong vụ án này, ông T không có chứng cứ gì chứng minh về việc tặng cho quyền sử dụng đất. Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng án lệ số 52/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 công nhận hiệu lực việc tặng cho giữa cụ N, cụ V với bên ông T và bà Đ đối với diện tích đo thực tế 643m² thuộc phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L là chưa phù hợp.

[6.3] Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ V và cụ N, hai cụ có cho các con cất nhà ở nhưng không có việc tặng cho quyền sử dụng đất cho ông T, bà Đ nên yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích đo thực tế 643m² thuộc phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L của ông T, bà Đ là không có căn cứ, kháng cáo của cụ N có cơ sở chấp nhận.

[7] Về yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất:

Như phân tích ở trên có căn cứ xác định thửa đất 126 có diện tích đo đạc thực tế là 3.340m² và thửa đất 623 có diện tích đo đạc thực tế là 582m², tổng diện tích 3.784m² theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2023 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ký duyệt ngày 15/5/2023 là tài sản chung của cụ Trần Văn V (chết năm 2008) và cụ Lê Thị N (còn sống).

Các đương sự xác định khi cụ V chết không để lại di chúc, cụ N hiện còn sống xác định chưa phân chia thừa kế. Do đó, có cơ sở để khẳng định ½ diện tích đất thuộc thửa 126, 623 là di sản do cụ V chết để lại, yêu cầu của cụ N được hưởng ½ diện tích đất trong khối tài sản chung thuộc hai thửa đất trên là có căn cứ chấp nhận.

[7.1] Sau khi cụ V chết, hàng thừa kế của cụ V gồm: Cụ Lê Thị N; Ông Trần Quan T; Ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị X là hàng thừa kế của ông Trần Văn S1 (chết 2018); Ông Lê Văn S; Bà Trần Thị B; Bà Trần Thị N1. Các đương sự xác định gồm 06 kỷ phần thừa kế, phần của ông S1 đã chết do bà X và ông T1 hưởng.

Trong quá trình xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, ngày 9/9/2024 cụ N có Tờ tường trình và tại phiên tòa, cụ N đồng ý tặng cho phần tài sản của cụ là một phần thửa 126 cho các thừa kế còn lại mỗi người 200m², riêng đối với ông T cụ chỉ đồng ý tặng cho ông T 200m² thuộc một phần thửa 126 trong trường hợp Tòa án bác toàn bộ yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ V và ông T đối với phần đất diện tích 643m² thuộc một phần thửa 126.

Như nhận định ở trên không chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ V và ông T nên 05 người con của cụ V được hưởng thêm 200m² đất thuộc thửa 126 do cụ N tặng. (Tổng cộng mỗi người được hưởng 500m² loại đất BHK, đủ điều kiện tách thửa theo Điều 9 Quyết định số 42/2021/QĐ-UBND 18/10/2021 của UBDN tỉnh L: diện tích tối thiểu tách thửa đối với các loại đất nông nghiệp còn lại là 500m²).

Theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 19/8/2024, về hiện trạng đường đi vào nhà ông T1 và bà X, nhà cụ N, nhà ông S, các đương sự xác định lối đi tại khu I thuộc một phần thửa 126 có diện tích 342m² mà Bản án sơ thẩm đã tuyên “Dành phần đất làm lối đi chung cho hộ cụ N, ông T1, bà X, ông S tại phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích 342m², loại đất BHK”. Vị trí tại khu I của Mãnh trích đo phân khu ngày 23/01/2024 thực tế phần khu I không phải là lối đi, các đương sự sử dụng lối đi bên cạnh Thánh thất C. Các đương sự thống nhất không sử dụng lối đi tại vị trí khu I và không yêu cầu mở lối đi thuộc thửa 126. Do các đương sự không yêu cầu dành lối đi chung nên Tòa sơ thẩm dành phần diện tích đất 342m² làm lối đi là giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự, phần đất này sẽ được chia thừa kế theo yêu cầu của đương sự.

Phần diện tích mồ mã có diện tích 50,8m² thuộc một phần thửa 126, các đương sự thống nhất trừ ra không yêu cầu chia thừa kế nên ghi nhận, thửa đất 126 có diện tích đo đạc thực tế là 3.340m² trừ diện tích mồ mã 50,8m2, diện tích còn lại của thửa 126 là 3.289,2m².

[7.2] Chia thừa kế như sau:

Thửa đất 126 có diện tích đo đạc thực tế là 3.340m² trừ diện tích mồ mã 50,8m2, diện tích còn lại 3.289,2m² và thửa đất 623 có diện tích đo đạc thực tế là 444m², tổng diện tích hai thửa 126, 623 là 3.733,2m².

Đối với di sản của cụ V chết để lại gồm: ½ thửa đất 126 diện tích 3.289,2m² : 2 = 1.644,6m², ½ thửa đất 623 có diện tích 444m² : 2 = 222m².

Giá trị di sản của cụ V:

  • - Thửa đất 126: 1.644,6m² x 1.116.000 đồng/m² = 1.835.373.600 đồng
  • - Thửa đất 623: 222m² x 2.401.000 đồng/m² = 533.022.000 đồng.
  • Tổng cộng: 2.368.395.600 đồng.

Di sản của cụ V sẽ chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ V thành 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 2.368.395.600 đồng : 6 = 394.732.600 đồng.

Cụ N đồng ý cho cho ông T, ông S, bà B, bà N1, ông T1 và bà X mỗi người 200m² (thuộc thửa đất 126) x 1.116.000 đồng/m² tương ứng số tiền 223.200.000 đồng.

Tổng cộng phần chia thừa kế của cụ V và phần cụ N cho thêm, ông T, ông S, bà B, bà N1, ông T1 và bà X mỗi người được hưởng 394.732.600 đồng + 223.200.000 đồng = 617.932.600 đồng.

Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, thấy rằng ông T, ông S, ông S1 (có con là ông T1 và bà X) đã quản lý, sử dụng đất và xây nhà sinh sống trên đất nên chia đất là phù hợp, phần chênh lệch các hàng thừa kế phải có nghĩa vụ thanh toán cho cụ N tương ứng với giá trị đất. Đối với bà B, bà N1 phần đất được chia đủ điều kiện tách thửa nên chia đất, bà B nhận Khu 2, bà N1 nhận Khu 3.

Theo Mảnh trích đo phân khu do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ lập ngày 09/9/2024, thì chia cho ông T phần đất có diện tích 715m² tương ứng với số tiền (715m² x 1.116.000 đồng/m²) = 797.940.000 đồng, ông T có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N số tiền chênh lệch so với phần được hưởng 797.940.000 đồng - 617.932.600 đồng = 180.007.400 đồng.

Phần đất ông S đang sử dụng có diện tích 814m² (Khu D) nên chia cho ông S Khu 4 tương ứng với số tiền (814m² x 1.116.000 đồng/m²) = 908.424.000 đồng, ông S có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N số tiền chênh lệch so với phần được hưởng 908.424.000 đồng - 617.932.600 đồng = 290.491.400 đồng.

Phần đất ông T1 và bà X (con ông S1) đang sử dụng có diện tích 500m² (Khu A) nên chia cho ông T1 và bà Xuân K 1, ông T1 và bà X không phải thanh toán giá trị chênh lệch cho cụ N.

Chia cho bà B Khu 2 với diện tích 711m² trừ diện tích mồ mã 50,8m² diện tích còn lại bà B được chia là 660,2m² tương ứng với số tiền (660,2m² x 1.116.000 đồng/m²) = 736.783.200 đồng, bà B có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N số tiền chênh lệch so với phần được hưởng 736.783.200 đồng - 617.932.600 đồng = 118.850.600 đồng.

Chia cho bà N1 Khu 3 với diện tích 600m² tương ứng với số tiền (600m² x 1.116.000 đồng/m²) = 669.600.000 đồng, bà N1 có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N số tiền chênh lệch so với phần được hưởng 669.600.000 đồng - 617.932.600 đồng = 51.667.400 đồng.

Đối với thửa đất 623, do diện tích quá nhỏ, không đủ điều kiện tách thửa và trên đất có căn nhà của cụ N đang sinh sống nên chia cho cụ N thửa đất 623, diện tích đo đạc thực tế 444m². Cụ N được tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất 623.

[8] Ngoài ra, tại mục 12 của Bản án sơ thẩm tuyên “Chấp nhận yêu cầu của cụ Lê Thị N về việc Hủy đơn xin xác nhận có đất nhà ở của bà Trần Thị Ngọc T2 ngày 28/10/2008 có UBND xã L xác nhận“ là không phù hợp. Thấy rằng, đơn xin xác nhận có đất nhà ở của bà T2, đây là tài liệu chứng cứ do đương sự nộp, không phải là văn bản hành chính, quyết định hành chính của cơ quan nhà nước, nội dung đơn này để bà T2 bổ túc hồ sơ xin tách, nhập hộ khẩu, Tòa án sẽ xem xét đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại cách tuyên án cho phù hợp.

[9] Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của cụ Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1 là có căn cứ nên chấp nhận.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[11] Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm:

Tổng chi phí 70.500.000 đồng. Cụ Ngôi nộp 30.000.000 đồng, còn lại ông T3 và bà T2 nộp 40.500.000 đồng.

Ông T3 và bà T2 tự nguyện chịu phần chi phí 16.500.000 đồng (phần đo theo yêu cầu khởi kiện của ông T3 và bà T2 ở cấp sơ thẩm).

Chi phí còn lại 70.500.000 đồng - 16.500.000 đồng = 54.000.000 đồng. Cụ N, ông T, ông S, bà N1, bà B, ông T1 và bà X mỗi người phải chịu 1/6 chi phí là 9.000.000 đồng.

Ông S có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N 9.000.000 đồng.

Bà B có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N 9.000.000 đồng.

Bà N1 có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N 3.000.000 đồng, thanh toán lại cho ông T3 và bà T2 6.000.000 đồng.

Ông T có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông T3 và bà T2 9.000.000 đồng.

Ông T1 và bà X có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông T3 và bà T2 9.000.000 đồng.

[12] Về chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: 6.000.000 đồng. Bị đơn cụ Lê Thị N tự nguyện chịu (đã nộp xong).

[13] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án,:

  • - Cụ N, ông T và bà Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Ông S, bà B, bà N1, ông T1 và bà X phải chịu án phí đối với phần di sản của cụ V được chia, cụ thể 394.732.600 đồng x 5% = 19.736.630 đồng.

[14] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của cụ Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[15] Các phần khác của bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận kháng cáo của cụ Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, 157, 165, Điều 271, Điều 273, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 166, Điều 167, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 219; Điều 649, Điều 117, 459, 623, 650, 651, Điều 660 Bộ luật dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 12, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quan T và bà Nguyễn Thị Đ về việc “Công nhận hiệu lực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” với cụ Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1, ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị X, đối với phần đất có diện tích 643m² thuộc một phần thửa 126, tờ bản đồ 17, loại đất BHK, tọa lạc tại xã L huyện Đ, tỉnh Long An do ông Trần Văn V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  2. Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Trần Quan T, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1, ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị X.
    1. Chia cho ông Trần Quan T phần đất có diện tích 715m² thuộc một phần thửa 126, tờ bản đồ 17, loại đất BHK, tọa lạc tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Trần Văn V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Trên đất có nhà của ông T).

      Ông Trần Quan T có nghĩa vụ thanh toán cho cụ Lê Thị N số tiền chênh lệch so với phần thừa kế được hưởng là 180.007.400 đồng (Một trăm tám mươi triệu, không trăm không bảy ngàn, bốn trăm đồng).

    2. Chia cho ông Lê Văn S phần đất có diện tích 814m² thuộc một phần thửa 126, tờ bản đồ 17, loại đất BHK, tọa lạc tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Trần Văn V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Khu 4) (Trên đất có nhà của ông S).

      Ông Lê Văn S có nghĩa vụ thanh toán cho cụ Lê Thị N số tiền chênh lệch so với phần thừa kế được hưởng là 290.491.400 đồng (Hai trăm chín mươi triệu, bốn trăm chín mươi mốt ngàn, bốn trăm đồng).

    3. Chia cho bà Trần Thị N1 phần đất có diện tích 600m² thuộc một phần thửa 126, tờ bản đồ 17, loại đất BHK, tọa lạc tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Trần Văn V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Khu C).

      Bà Trần Thị N1 có nghĩa vụ thanh toán cho cụ Lê Thị N số tiền chênh lệch so với phần thừa kế được hưởng là 51.667.400 đồng (Năm mươi mốt triệu, sáu trăm sáu mươi bảy ngàn, bốn trăm đồng).

    4. Chia cho bà Trần Thị B phần đất có diện tích 711m² thuộc một phần thửa 126, tờ bản đồ 17, loại đất BHK, tọa lạc tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Trần Văn V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Khu B).

      Bà Trần Thị B có nghĩa vụ thanh toán cho cụ Lê Thị N số tiền chênh lệch so với phần thừa kế được hưởng là 118.850.600 đồng (Một trăm mười tám triệu, tám trăm năm mươi ngàn, sáu trăm đồng).

    5. Chia cho ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị X (con ông Trần Văn S1 đã chết) phần đất có diện tích 500m² thuộc một phần thửa 126, tờ bản đồ 17, loại đất BHK, tọa lạc tại xã L huyện Đ, tỉnh Long An do ông Trần Văn V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Khu 1) (Trên đất có nhà của ông S1).
  3. Chấp nhận yêu cầu của cụ Lê Thị N về việc: “Chia tài chung quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất” với ông Trần Quan T, Lê Văn S, Trần Văn T1, Trần Thị X, Trần Thị N1 và Trần Thị B.

    Chia cho cụ Lê Thị N quyền sử dụng đất tại thửa đất 623, tờ bản đồ 17 xã L với diện tích đo đạc thực tế 444m², loại ONT, tọa lạc tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Trần Văn V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Trên đất có nhà của cụ N).

  4. Vị trí, diện tích các khu đất chia cho cụ N, ông T, ông S (Khu D), bà N1 (Khu C), bà B (Khu 2), ông T1 và bà X (Khu 1) theo Mảnh trích đo phân khu ngày 09/9/2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phân khu dựa trên Mảnh trích đo chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ đo vẽ, ký duyệt ngày 15/5/2023.
  5. Người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên GCNQSDĐ đã cấp).

    Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

    Cơ quan Đăng ký đất đai; Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án để giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

  6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N4 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
  7. Đình chỉ yêu cầu cụ Lê Thị N về việc yêu cầu ông T3 và bà T2 tháo dỡ nhà phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích 643m², loại đất BHK.
  8. Đình chỉ yêu cầu của ông Võ Thành T3 và bà Trần Thị Ngọc T2 về việc: “Công nhận quyền sử dụng đất” đối với ông Trần Văn S2 tại phần thửa 126 tờ bản đồ 17 xã L với diện tích 643m², loại đất BHK.
  9. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T và bà Đ về việc yêu cầu công nhận một phần thửa 127 diện tích 91m² và thửa 159 tờ bản đồ số 17 (có diện tích 70m²) xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (thửa mới là phần thửa số 7 - TBĐ số 47 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
  10. Tách yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quốc T5 về việc tranh chấp với ông Trần Quan T thửa 159 tờ bản đồ 17 Lộc Giang có diện tích 70m², loại đất ONT (thửa mới là phần thửa số 7 – TBĐ số 47 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An bằng vụ án dân sự khác.
  11. Tách yêu cầu của ông Lê Văn S, bà Trần Thị N1, bà Trần Thị B và cụ Lê Thị N tranh chấp với ông Trần Quan T tại phần thửa 127 diện tích 91m² và thửa 159 tờ bản đồ số 17 (có diện tích 70m²) xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (thửa mới là phần thửa số 7 - TBĐ số 47 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An bằng vụ án dân sự khác.
  12. Về chi phí đo đạc, thẩm định, định giá ở cấp sơ thẩm: Tổng chi phí 70.500.000 đồng.

    Ông T3 và bà T2 tự nguyện chịu 16.500.000 đồng (đã nộp xong).

    Cụ N, ông T, ông S, bà N1, bà B, ông T1 và bà X mỗi người phải chịu 9.000.000 đồng.

    Ông S có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N 9.000.000 đồng.

    Bà B có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N 9.000.000 đồng.

    Bà N1 có nghĩa vụ thanh toán lại cho cụ N 3.000.000 đồng, thanh toán lại cho ông T3 và bà T2 6.000.000 đồng.

    Ông T có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông T3 và bà T2 9.000.000 đồng.

    Ông T1 và bà X có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông T3 và bà T2 9.000.000 đồng.

  13. Về chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: 6.000.000 đồng. Bị đơn cụ Lê Thị N tự nguyện chịu (đã nộp xong).
  14. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Miễn cho cụ Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Quan T án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Lê Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.736.630 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông S đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0006104 ngày 24/8/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Ông S phải nộp thêm số tiền 17.236.630 đồng.

    Bà Trần Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.736.630 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà B đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai số 0006102 ngày 24/8/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà B còn phải nộp thêm số tiền 17.236.630 đồng.

    Bà Trần Thị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.736.630 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà N1 đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai số 0006101 ngày 24/8/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà N1 còn phải nộp thêm số tiền 17.236.630 đồng.

    Ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị X phải liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm 19.736.630 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai số 0006103 ngày 24/8/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Ông T1 và bà X phải liên đới nộp thêm số tiền 17.236.630 đồng.

    Hoàn trả cho ông Võ Thành T3, bà Trần Thị Ngọc T2 số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005166 ngày 14/5/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

    Hoàn trả cho ông Phạm Quốc T5 số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004127 ngày 24/7/2023 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

    Hoàn trả cho ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1 số tiền tạm ứng án phí tổng cộng 600.000 đồng (300.000 đồng theo biên lai thu số 0004130 ngày 24/7/2023 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004131 ngày 24/7/2023) tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

  15. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Cụ Lê Thị N, ông Lê Văn S, bà Trần Thị B, bà Trần Thị N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

    Hoàn trả cho ông Lê Văn S số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0006225 ngày 06 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

    Hoàn trả cho bà Trần Thị B số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0006226 ngày 06 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

    Hoàn trả cho bà Trần Thị N1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0006227 ngày 06 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

  16. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  17. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 414/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về yêu cầu chia tài sản chung quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 414/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chia tài sản chung quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger