Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 414/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25-9-2024

V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng;

2. Bà Nguyễn Kim Lên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 363/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 355/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc Q. Sinh năm: 2000 (xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Trần Quốc K. Sinh năm: 1998 (xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp R, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình tố tụng, bà Lê Ngọc Q trình bày:

Về hôn nhân: Bà Q và ông K kết hôn năm 2019 có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, việc kết hôn là tự nguyện. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn được bà xác định là trong thời gian chung sống vợ chồng không hòa hợp với nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tự hàn gắn được, hiện nay ông bà đã ly thân. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, bà Q xác định tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục. Nay bà Q yêu cầu được ly hôn với ông K.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Khánh L, sinh ngày 26/06/2018 và Trần Thành L1, sinh ngày 04/6/2020, sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi hai cháu, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc riêng, bà xin vắng mặt tại phiên xét xử của tòa án.

Tại đơn trình bày ý kiến ngày 15/9/2024 bị đơn Trần Quốc K trình bày:

Về hôn nhân: Ông K đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Lê Ngọc Q.

Về con chung: Có 02 người con chung, Trần Khánh L, sinh ngày 26/06/2018 đã chết do tai nạn giao thông, Trần Thành L1, sinh ngày 04/6/2020 đang sống chung cùng ông K, ông K yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bận công việc riêng, ông xin vắng mặt tại phiên xét xử của tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa từ khi thụ lý, đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc Q về việc yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quốc K.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Thành L1, sinh ngày 04/6/2020 cho ông Trần Quốc K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Bà Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Án phí đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Trần Quốc K có nơi cư trú tại Ấp R, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Q khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với ông K nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "tranh chấp xin ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Q và ông K yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt bà Q, ông K theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông bà tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào năm 2019 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện ông bà đã ly thân nhau. Bà Q xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông K và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà Q được ly hôn với ông K.

[3] Về con chung: Có 02 người con chung, Trần Khánh L, sinh ngày 26/06/2018 đã chết do tai nạn giao thông, Trần Thành L1, sinh ngày 04/6/2020 đang sống chung cùng ông K, ông K yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con và bà Q cũng yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Toà án có tiến hành đi xác minh về tình trạng hôn nhân và con chung của bà Q và ông K thì được biết con chung có 02 người con: Trần Khánh L, sinh ngày 26/06/2018 đã chết do tai nạn giao thông, Trần Thành L1, sinh ngày 04/6/2020 đang sống chung cùng ông K, điều kiện hoàn cảnh sống của cháu tốt. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh sống của cháu Thành L1 nên giao cháu Thành L1 cho ông K nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp và tốt nhất với cháu. Bà Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Q không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom con chung của bà Q.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp và yêu cầu giải quyết thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình; Ông K không phải chịu án phí.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc Q về việc yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quốc K.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thành L1, sinh ngày 04/6/2020 cho ông Trần Quốc K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Bà Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Bà Lê Ngọc Q phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Bà có dự nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005118 ngày 10/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 414/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 414/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc Q xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger