Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 414/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 9 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Xuân Thường

2. Ông Hồ Bá Võ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Anh, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 242/2024/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị O, sinh năm 1989; địa chỉ: Số nhà A, khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: Xóm A, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hoàng Thị D, sinh năm: 1985; Địa chỉ: xóm B, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).

- Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1988; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số nhà A, khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Hiện nay đang cư trú và làm việc tại Hungary (không rõ địa chỉ). Vắng mặt (lần thứ hai).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị C, sinh năm 1958 và ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1954 (bố mẹ đẻ của anh N); Cùng địa chỉ: Số nhà A, khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong “Đơn khởi kiện” đề ngày 06/6/2024, Bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị O trình bày: Chị và anh Phạm Văn N kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An vào ngày 03/01/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được được khoảng 4 năm thì sau đó anh N đi xuất khẩu lao động tại Hungary. Do khoảng cách địa lý xa xôi nên vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng mất mát, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn N. Tuy nhiên, do vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm, không liên lạc gì với nhau nên chị Hoàng Thị O không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Phạm Văn N tại Hungary mà chỉ biết anh N vẫn thường xuyên liên lạc về với bố mẹ đẻ là ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1954 và bà Lê Thị C, sinh năm 1958; cùng địa chỉ cư trú: số nhà A, khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An và ông Đ, bà C biết địa chỉ cụ thể của anh N ở Hungary nên đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Phạm Văn N có 01 con chung là cháu Phạm Hoàng Anh D1, sinh ngày 06/3/2017. Hiện nay cháu đang ở cùng với ông bà nội là ông Phạm Văn Đ và bà Lê Thị C (bố mẹ đẻ anh Phạm Văn N) tại khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu D1 cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Phạm Văn N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị O không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Phạm Văn N vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 3946/XNC(Đ1) ngày 23/9/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh N thì: “Anh Phạm Văn N, sinh ngày 02/12/1988 đã xuất cảnh ngày 26/12/2022, qua cửa khẩu S, chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh N ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh N vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại Bản tự khai ngày 16/7/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C (mẹ đẻ của anh Phạm Văn N) trình bày: Ông Phạm Văn Đ và bà Lê Thị C là bố mẹ đẻ của anh Phạm Văn N. Chị Hoàng Thị O và anh Phạm Văn N kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng anh N và chị O sống chung với gia đình ông bà. Cuối năm 2022, anh N đi xuất khẩu lao động tại Hungary. Trong thời gian đi xuất khẩu lao động, anh N thường xuyên liên lạc về với gia đình thông qua điện thoại để hỏi thăm sức khỏe. Bà C đã nhận được các thông báo của Tòa án, được biết việc chị O viết đơn ly hôn và cũng đã nhận được các công văn của Toà án yêu cầu cung cấp địa chỉ cụ thể của anh N tại Hungary. Gia đình cũng đã thông báo các thông tin này cho anh N tuy nhiên do anh N không nói địa chỉ cụ thể tại Hungary cũng không có ý kiến gì nên bà cũng không biết được địa chỉ của anh N tại Hungary để cung cấp cho Toà án. Về việc ly hôn của anh N và chị O thì bà không có ý kiến gì. Vợ chồng chị O và anh N có một con chung là cháu Phạm Hoàng Anh D1, sinh ngày 06/3/2017, hiện tại cháu Anh D1 đang ở với ông Đ, bà C. Gia đình ông Đ, bà C nuôi cháu từ nhỏ đến bây giờ, bố cháu thường xuyên gửi tiền về để ông bà chăm sóc cháu Anh D1. Nay chị O và anh N ly hôn ông bà có nguyện vọng tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng cháu Anh D1. Ông bà không yêu cầu chị O cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung của anh N, chị O thì bà C không biết. Đồng thời, do điều kiện sức khỏe, không thể có mặt nên ông Đ, bà C xin phép được xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 và 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Hoàng Thị O được ly hôn anh Phạm Văn N.
  • Về con chung: giao con chung là cháu Phạm Hoàng Anh D1, sinh ngày 06/3/2017 cho chị Hoàng Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N do anh N chưa có yêu cầu.
  • Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
  • Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị O phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 06/6/2024, chị Hoàng Thị O có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phạm Văn N. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị O và anh N đều có nơi thường trú tại xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An nhưng từ cuối năm 2022 thì anh N đã đi xuất khẩu lao động ở Hungary đến nay chưa về nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuy nhiên, tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị O và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C, ông Phạm Văn Đ vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn là anh Phạm Văn N quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Anh Phạm Văn N đã đi xuất khẩu lao động tại Hungary từ năm 2022, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ nơi cư trú hiện nay. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ anh N ở nước ngoài nhưng theo bà Lê Thị C (mẹ đẻ anh N) thì anh N tuy vẫn có liên hệ với gia đình và đã biết việc Toà án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị O nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Phạm Văn N, nguyên đơn chị Hoàng Thị O, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Đ và bà Lê Thị C.

[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị O:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Hoàng Thị O và anh Phạm Văn N được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận và có với nhau một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, từ năm 2022, anh N đã đi xuất khẩu lao động tại Hungary dẫn đến vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, liên lạc gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh N lại không có mặt tại Tòa án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài nhưng đã ly thân hơn 2 năm nay mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị O vẫn kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị O yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị O, bà C đều thống nhất trình bày: Vợ chồng chị O, anh N có một con chung là Phạm Hoàng Anh D1, sinh ngày 06/3/2017. Hiện nay cháu D1 đang ở với ông Phạm Văn Đ và bà Lê Thị C. Nay ly hôn, chị O xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D1 và không yêu cầu cấp dưỡng. Ông Đ, bà C cũng có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D1. Hội đồng xét thấy: Mặc dù từ trước đến nay cháu D1 đã ở cùng với ông Đ, bà C nhưng theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì việc nuôi con chung chưa thành niên sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của bố mẹ; yêu cầu được nuôi con của chị O là hoàn toàn chính đáng. Mặt khác, anh N hiện nay đang ở nước ngoài; ông Đ, bà C cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh N nên cần giao cháu D1 cho chị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên. Chị O xin được nuôi con nhưng không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

Về công sức trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Hoàng Anh D1: ông Đ, bà C là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nhưng chưa yêu cầu chị O, anh N phải thanh toán các khoản chi phí chăm sóc nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị O không yêu cầu Toà án giải quyết, anh N cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[3]. Về án phí: Chị Hoàng Thị O phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị O.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị O được ly hôn với anh Phạm Văn N.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Phạm Hoàng Anh D1, sinh ngày 06/3/2017 cho chị Hoàng Thị O trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị O không yêu cầu và anh Phạm Văn N cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.

Anh Phạm Văn N có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Phạm Văn N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị O không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  2. Về án phí: Chị Hoàng Thị O phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0012930 ngày 13/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  3. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: chị Hoàng Thị O, ông Phạm Văn Đ và bà Lê Thị C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Phạm Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò
  • (theo Giấy ĐKKH số 01/2014 ngày 03/01/2014);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 414/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 414/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị O và anh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger