TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 414/2024/DS-PT Ngày: 06/8/2024 V/v: tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Thắng.
Các Thẩm phán:
Ông Phùng Hải Hiệp;
Bà Đặng Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Ngọc, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 75/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 8069/2024/QĐPT-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị L, sinh năm 1984, nơi thường trú: D, L, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên hệ: Số A T, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Văn K, sinh năm 1954 và bà Võ Thị T, sinh năm 1956, cùng địa chỉ: thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Đều vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Văn K và bà Võ Thị T: Bà Mai Thị Bảo T1, sinh năm 2001, địa chỉ: Số A P, phường M, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Võ Văn K và bà Võ Thị T: Luật sư Phạm Đình T2, thuộc Công ty L6, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
- Ông Phan Trọng V, sinh năm 1943, địa chỉ: thôn A, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
- Bà Võ Thanh T3, sinh năm 1946, địa chỉ: thôn A, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
- Ông Võ K1, sinh năm 1946, địa chỉ: Tổ dân phố số B, P, quận B, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1951, địa chỉ: tổ H, thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
- Chị Võ Thị L1, sinh năm 1981, địa chỉ: thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
- Chị Võ Thị L2, sinh năm 1988, địa chỉ: hẻm B, đường T, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
- Anh Võ Nhật L3, sinh năm 1990, địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
- Anh Trịnh Vũ L4, sinh năm 1968, địa chỉ: 6, P, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
- Anh Trịnh Vũ L5, sinh năm 1970, địa chỉ: B S, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
- Anh Trịnh Vũ N, sinh năm 1975, địa chỉ: khu phố E, X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thanh T3, ông Võ K1, bà Lê Thị H, chị Võ Thị L1, chị Võ Thị L2, anh Võ Nhật L3, anh Trịnh Vũ L4, anh Trịnh Vũ L5, anh Trịnh Vũ N: Ông Trần Đức H1, sinh năm 1986, địa chỉ: Số C, đường N, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn là ông Võ Văn K, bà Võ Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/9/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Võ Thị L trình bày:
Ông bà nội của bà Võ Thị L là cụ Võ N1 (chết năm 1991) và cụ Nguyễn Thị B (có tên thường gọi là cụ H2, chết năm 2009). Lúc sinh thời hai cụ sinh được 04 người con gồm: Ông Võ K1, bà Võ Thanh T3, ông Võ Đình C (chết năm 2007) và bà Võ Thị Hồng H2 (chết năm 2020). Ông Võ Đình C có vợ là bà Lê Thị H và 04 người con gồm: Bà Võ Thị L1, bà Võ Thị L, bà Võ Thị L2, ông Võ Nhật L3. Hiện tại chồng bà Võ Thị Hồng H2 cũng đã chết, bà H2 có 03 người con gồm: Anh Trịnh Vũ L4, anh Trịnh Vũ L5, anh Trịnh Vũ N.
2
Cụ N1, cụ B chết để lại thửa đất có diện tích 637,0m² (theo bản đồ 299 là thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02) tại thôn H (nay là thôn A), xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, nay là thửa đất số 396, tờ bản đồ số 49, diện tích 1300,4m² mang tên ông Võ Văn K, bà Võ Thị T. Đây là đất hương hỏa của gia đình sinh sống từ bao đời nay, từ đời tổ tiên, ông bà, bố mẹ cho đến đời bà được sinh ra trên thửa đất này. Tại thời điểm gia đình bà sử dụng, tài sản trên đất có một ngôi nhà gỗ cấp bốn, công trình giếng nước và rất nhiều cây cối được trồng trên đất.
Năm 1982, do bãi đá bị xâm lấn, chính quyền địa phương xét đến hoàn cảnh của ông bà nội của bà có các con đều tham gia cách mạng từ năm 1945, có hai con là Sỹ quan Q, nên đã cấp cho 01 thửa đất tại thôn khác là thôn H Một để sinh sống. Sau khi chuyển về nơi ở mới, thửa đất tại thôn H, ông nội của bà cùng với ông Nguyễn T4 trồng cây phi lao để bán. Đến năm 1991, ông nội của bà chết. Năm 1992, bố mẹ của bà đưa bà nội cùng chuyển vào miền N làm ăn, sinh sống. Trước khi đi vào miền N, bố và bà nội có gửi lại thửa đất và ngôi nhà tại thôn H cho bà Mai Thị Vĩnh T5 thật là T7 (mẹ vợ ông Võ Văn K – bị đơn) trông coi giúp. Một thời gian sau bà Mai Thị V1 cũng chuyển vào Bình Dương sống cùng con cháu. Gia đình ông K, bà T lúc đó đang ở nhờ trên đất của cố Võ Thị C1 (C), liền kề với đất của gia đình bà. Năm 2004, lợi dụng gia đình của bà ở xa nên vợ chồng ông K đã chuyển về sinh sống và chiếm đoạt luôn thửa đất của gia đình bà.
Đến ngày 10/10/2004, Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện N đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD đất) số V 770994 mang tên ông Võ Văn K với diện tích 1096,0m² (trong đó có 200,0m² đất ở và 896,0m² đất vườn). Phần diện tích UBND huyện N cấp GCNQSD đất cho ông Võ Văn K và bà Võ Thị T bao gồm thửa 191 và thửa 274 theo bản đồ 299. Đến ngày 13/6/2016, UBND huyện N cấp đổi GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 802261 mang tên ông Võ Văn K và bà Võ Thị T với diện tích 1300,4m² (trong đó có 200,0m² đất ở và 1100,4m² đất trồng cây lâu năm). Việc UBND huyện N cấp GCNQSD đất cho ông Võ Văn K và bà Võ Thị T trên thửa đất hưởng hỏa của gia đình bà là trái quy định của pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà.
Vì vậy, bà Võ Thị L làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Hủy GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CB 802261 do UBND huyện N cấp ngày 13/6/2016 mang tên ông Võ Văn K và bà Võ Thị T, đồng thời hủy GCNQSD đất số phát hành V 770994 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2004 mang tên ông Võ Văn K.
- - Buộc ông Võ Văn K và bà Võ Thị T trả lại cho bà phần diện tích tương ứng 637,0m² (theo bản đồ 299 là thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02).
Bị đơn là ông Võ Văn K, bà Võ Thị T và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L gia đình bị đơn không chấp nhận.
3
Bởi vì, năm 1982 có cơn bão lớn đổ vào xã X, toàn bộ nhà dân dọc ven biển bị sập đổ, cây cối ngã ngổn ngang, hầu hết dân ở khu vực đó đều chuyển đi chỗ khác sinh sống. Trong đó, gia đình cố H2 và cố T6 cũng chuyển đi nơi khác ở và đã được UBND xã thời kì đó cấp đất ở nay thuộc thôn H, xã X, đến năm 1992 thì gia đình cố H2 bán và chuyển vào miền N sinh sống. Vợ chồng ông Võ Đình T7 và bà Mai Thị V1 (là bố mẹ vợ của ông Võ Văn K) mặc dù nhà cũng bị sập đổ nhưng gia đình vẫn dựng nhà lên ở tiếp. Đến năm 1983, theo chủ trương của xã vận động các hộ gia đình sinh sống ven biển trồng cây để giữ làng và vì tiện chăm sóc mẹ tuổi già, ông Võ Văn K và bà Võ Thị T về ở trên đất bố mẹ vợ. Thửa đất hiện tại gia đình đang sinh sống, thời điểm đó ông K đã xây dựng chuồng trại chăn nuôi bò, phía ngoài trồng cây phi lao; ở trong trồng cỏ, trồng khoai vừa sản xuất vừa chăn nuôi. Sau đó vợ chồng ông T7, bà V1 vào miền N sinh sống nên giao lại thửa đất cho con là vợ chồng ông K, bà T sử dụng cho đến nay. Tháng 10/2002 ông Võ Văn K xây nhà trên đất để ở. Trên cơ sở kê khai đăng ký, ngày 10/10/2004, UBND huyện N đã cấp GCNQSD đất số V770994 chủ sử dụng đất mang tên ông Võ Văn K, diện tích 1.096m² đối với thửa đất số 191, Tờ bản đồ 02, diện tích 1.096m² ( trong đó có 200m² đất ở, 896m² đất vườn).
Năm 2014, thực hiện chủ trương cấp đổi lại GCNQSD đất, ông Võ Văn K và bà Võ Thị T đã làm đơn xin cấp GCNQSD đất theo kết quả đo đạc bản đồ địa chính 2014, sau khi kiểm tra hiện trạng sử dụng đất đối với thửa đất xin cấp đổi lại GCNQSD đất có diện tích 1.300,4m²; UBND xã X đã phối hợp với thôn H tổ chức lấy ý kiến nhân dân về thời điểm sử dụng đất và hướng dẫn ông Võ Văn K lập hồ sơ đề nghị UBND huyện cấp đổi GCNQSD đất có nguồn gốc sử dụng trước ngày 15/10/1993, phần diện tích tăng 204,4m² được xác định là do sai số đo đạc. Ngày 16/6/2016, UBND huyện N đã cấp GCNQSD đất số CB802261, chủ sử dụng đất mang tên Võ Văn K và bà Võ Thị T, diện tích 1.300,4m² (trong đó 200m² đất ở; 1.100,4m² đất CLN).
Ông K, bà T đã sử dụng thửa đất này ổn định, lâu dài, không có tranh chấp, việc cấp GCNQSD đất cho ông Võ Văn K năm 2004, đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.096m² và việc cấp lại GCNQSD đất số CB802261, chủ sử dụng đất mang tên Võ Văn K và bà Võ Thị T, diện tích 1.300,4m² (trong đó 200m² đất ở; 1.100,4m² đất CLN) vào năm 2016 được thực hiện đúng quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013.
Bị đơn cho rằng dù gia đình nguyên đơn từng ở trên thửa đất 191 này (cụ thể là trước năm 1982) thì đến nay cũng không còn quyền đối với thửa đất này nữa vì đã từ bỏ quyền đối với thửa đất, suốt một thời gian dài từ năm 1982 đến nay không hề quản lý, sử dụng hay canh tác trên thửa đất này. Về vấn đề này thì Tòa án nhân dân Tối cao đã có Hướng dẫn số 169/2002/KHXX ngày 15/12/2002 về đường lối giải quyết các khiếu kiện, các tranh chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Võ K1, bà Võ Thị L2, bà Võ Thị L1, ông Võ Thanh T3: Đều trình bày thống nhất như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
4
và đề nghị Tòa án Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CB 802261 do UBND huyện N cấp ngày 13/6/2016 mang tên ông Võ Văn K và bà Võ Thị T, đồng thời Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành V 770994 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2004 mang tên ông Võ Văn K; Buộc ông Võ Văn K và bà Võ Thị T trả lại cho các ông bà phần diện tích tương ứng 637m² đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện N trình bày:
- Về nguồn gốc đất đai, quá trình quản lý sử dụng đất và cấp GCNQSD đất lần đầu:
Theo bản đồ 299 và sổ mục kê: Thửa đất ông Võ Văn K và bà Võ Thị T đang sử dụng thuộc thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 637m², loại đất hoang ký hiệu Hg, chủ sử dụng: UBND xã và thửa đất số 274, tờ bản đồ số 02, diện tích 274m², loại đất hoang ký hiệu Hg, chủ sử dụng: UBND xã. Theo bản đồ đo đạc địa chính xã X năm 2014 và Sổ mục kê được Sở T9 xác nhận ngày 01/11/2017: thuộc thửa đất số 396, bản đồ số 41, diện tích 1.300,4m²; loại đất ONT+CLN; chủ sử dụng đất mang tên ông Võ Văn K và bà Võ Thị T.
Theo Báo cáo số 152/BC-UBND ngày 23/11/2022, UBND xã X (kết quả kiểm tra xác minh một số cá nhân có liên quan) xác nhận: Thửa đất này trước đây cố H2 (Quỳ) tức là Võ N1 và cố T6 (P) đã từng sinh sống. Đến năm 1982, bão đổ bộ vào, cố H2 và cố Thị C2 đi nơi khác. Gia đình bố mẹ vợ là ông Võ Đình T8 và bà Mai Thị V1 sử dụng, sau đó ông T8, bà V1 vào miền N, thửa đất được giao lại cho Võ Văn K và bà Võ Thị T sử dụng cho đến nay. Đến ngày 10/10/2004 được UBND huyện N cấp GCNQSD đất số V 770994, mang tên ông Võ Văn K đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02 diện tích 1.096m² (cấp theo Nghị định số 64/CP) và được cấp đổi GCNQSD đất số CB802261 mang tên ông Võ Văn K và bà Võ Thị T đối với thửa đất số 396, tờ bản đồ số 41, diện tích 1.300,4m².
Thực hiện chủ trương giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và cấp GCNQSD đất theo tinh thần Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, Ban quản lý đất đai tỉnh H đã ban hành Hướng dẫn số 01-HD/QLĐĐ ngày 05/01/1994 hướng dẫn về việc tổ chức, xét duyệt cấp GCNQSD đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; Tại mục 1, B, mục V. Tổ chức triển khai cấp GCNQSD đất của bản Hướng dẫn nêu rõ: UBND xã phường tổ chức cho tất cả các chủ sử dụng ruộng đất kê khai đăng ký quyền sử dụng đất do mình sử dụng. Cán bộ địa chính xã có trách nhiệm cùng Hội đồng giao đất hướng dẫn chủ sử dụng đất kê khai đúng các nội dung theo yêu cầu của việc cấp GCNQSD đất.
Trên cơ sở kê khai đăng ký, ngày 10/10/2004, UBND huyện N đã cấp GCNQSD đất số 1770994 chủ sử dụng đất mang tên ông Võ Văn K, thửa đất số 191, tờ bản đồ 02, diện tích 1.096m², (200m² đất ở, 896m² đất vườn). Như vậy, việc cấp GCNQSD đất cho ông Võ Văn K năm 2004, đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ 02, diện tích 1.096m² tại thôn H, xã X được thực hiện tại thời điểm đó là
5
đúng quy định của pháp luật.
- Quá trình lập hồ sơ, cấp đổi GCNQSD đất cho hộ ông Võ Văn K đối với thửa đất tại thôn H, xã X.
Năm 2014, thực hiện chủ trương cấp đổi lại GCNQSD đất, ông Võ Văn K và bà Võ Thị T đã làm đơn xin cấp GCNQSD đất theo kết quả đo đạc bản đồ địa chính 2014, sau khi kiểm tra hiện trạng sử dụng đất đối với thửa đất xin cấp đổi lại GCNQSD đất có diện tích 1.300,4m², UBND xã X đã phối hợp với thôn H tổ chức lấy ý kiến nhân dân về thời điểm sử dụng đất và hướng dẫn ông Võ Văn K lập hồ sơ đề nghị UBND huyện cấp đổi GCNQSD đất có nguồn gốc sử dụng trước ngày 15/10/1993, phần diện tích tăng 204,4m² được xác định là do sai số đo đạc. Ngày 16/6/2016, UBND huyện đã cấp GCNQSD đất số CB802261, chủ sử dụng đất mang tên Võ Văn K và bà Võ Thị T, diện tích 1.300,4m².
- Hồ sơ quản lý đất đai qua các thời kỳ:
Qua kiểm tra hồ sơ quản lý đất đai các thời kỳ lưu tại UBND xã X, Văn phòng Đ Chi nhánh huyện N xác định:
- - Hồ sơ đo đạc 299: Thửa đất bà Võ Thị L đang có đơn khởi kiện thuộc thửa đất số 191, tờ bản đồ số 2, diện tích 637m². Theo sổ mục kê ruộng đất (được UBND huyện N duyệt ngày 15/9/1986) chủ sử dụng đất: UBND xã, loại đất: Hg.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V770994, được UBND huyện N cấp ngày 10/10/2004, mang tên Võ Văn K, số vào sổ cấp GCNQSD đất số 1558QSDĐ;
- - Hồ sơ địa chính đo đạc năm 2014: Thửa đất bà L đang khởi kiện thuộc thửa 396, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.300,4m², loại đất: ONT-CLN. Theo Sổ mục kê ruộng đất (được Sở Tài nguyên-Môi trường duyệt ngày 01/11/2017): Tại trang số 35, thửa đất số 396, tờ bản đồ số 11, chủ sử dụng đất: ông Võ Văn K và bà Võ Thị T, loại đất ONT + CLN.
- - GCNQSD đất số CB 802261 được UBND huyện N cấp ngày 13/6/2016, mang tên ông Võ Văn K và bà Võ Thị T, số vào sổ cấp GCNQSD đất số CH00545.
- Về quan điểm giải quyết vụ việc của UBND huyện:
Việc bà Võ Thị L thường trú tại D, L, phường I, Đ, tỉnh Lâm Đồng khởi kiện ông Võ Văn K và bà Võ Thị T về việc tự ý chiếm đất của gia đình bà và việc UBND huyện N cấp GCNQSD đất số CB802261 ngày 13/6/2016 mang tên ông Võ Văn K và bà Võ Thị T và GCNQSD đất số V770994 ngày 10/10/2004 mang tên ông Võ Văn K là không đúng, đề nghị huỷ các GCNQSD đất nói trên là không có cơ sở vì:
- - Về hồ sơ quản lý đất đai: Bà Võ Thị L không cung cấp được bất cứ giấy tờ hợp pháp nào theo quy định của Luật Đất đai để chứng minh thửa đất thuộc quyền sử dụng của bà Võ Thị L; trên bản đồ 299 và sổ mục kê lập năm 1986 của xã X thể hiện đất UBND xã quản lý về hiện trạng sử dụng: Thửa đất 191, tờ bản đồ số 2,
6
bản đồ 299; nay là thửa 396, tờ bản đồ số 41, bản đồ địa chính đo đạc năm 2014 đã được ông Võ Văn K và bà Võ Thị T sử dụng ổn định và được UBND huyện cấp GCNQSD đất mang tên Võ Văn K ngày 10/10/2004.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của UBND huyện N thừa nhận việc cấp GCNQSD đất năm 2004 cho ông K có sai sót chưa đúng quy định, không có hồ sơ kê khai, không có đơn của ông K, không có hồ sơ cấp GCNQSD đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã X trình bày:
Vùng đất này là vùng ven biển trước đây chưa có đê chắn sóng. Năm 1979 đến 1982 bão lụt sạt lỡ, dẫn đến dân di cư rất nhiều, đặc biệt đi M, đây là thửa đất thuộc kiểu di cư như thế. Trước năm 1982 theo điều tra khảo sát những người sống cùng thời kỳ có cố Rô, cố H2 ở đó. Sau năm 1982 bão lụt nên họ di cư đi nơi khác, vùng đất này để lại cho xã quản lý, đất này thuộc loại đất hoang (H) và thể hiện tại bản đồ 299 ghi là đất hoang, xã quản lý. Theo quá trình kê khai của hộ gia đình ông K, bà T năm 2001 họ bắt đầu xây dựng nhà kiên cố, năm 2002 hoàn thành, đối chiếu quy định kế hoạch sử dụng đất thì tiến hành cấp đất cho hộ gia đình và được UBND huyện, xã thôn xóm xác nhận tứ cận ranh giới. Về phía gia đình bà L không có hồ sơ tài liệu lưu trữ tại xã để chứng minh việc có sử dụng đối với thửa đất này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Căn cứ Điều 166, Điều 170 Luật Đất đai 2013; Điều 163, Điều 166, Điều 221, Điều 237 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 176, Điều 177 Bộ luật Dân sự 1995; Điều 170, Điều 171 Bộ luật Dân sự 2005; khoản 2, khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a, c khoản 1 Điều 25; Điều 92; khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 802261 do UBND huyện N cấp ngày 13/6/2016 mang tên ông Võ Văn K, bà Võ Thị T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V770994 do do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2004 liên quan đến phần cấp cho thửa đất số 191, tờ bản đồ số 2 bản đồ 299 có diện tích 671m², theo kết quả thẩm định tại chỗ là 790m² tại thôn A (trước là thôn H) xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
7
- - Buộc ông Võ Văn K, bà Võ Thị T trả lại cho bà Võ Thị L và các đồng thừa kế của cụ Võ N1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án diện tích đất 250m² (Ký hiệu S1 sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm) có giá trị: 250m² x 600.000 đồng = 150.000.000 đồng. Phần diện tích đất còn lại của thửa đất (gồm cả lối đi do ông K tạo lập) có diện tích 540m² ông Võ Văn K, bà Võ Thị T được quyền sử dụng (Ký hiệu S2 sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).
Nguyên đơn, bị đơn có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký biến động đất đai, đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/8/2023, bị đơn là ông Võ Văn K, bà Võ Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là bà Võ Thị L vắng mặt; đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Căn cứ vào tài liệu quản lý địa chính tại địa phương, trình bày của UBND huyện N, UBND xã X, ý kiến của một số người làm chứng là những người sinh sống xung quanh thửa đất đều cho rằng thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông K, bà T là hợp pháp, sử dụng ổn định lâu dài từ năm 1982, trước đó là đất hoang do UBND xã quản lý, đã kê khai và được cấp GCNQSD đất. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K, bà T là đầy đủ theo quy định pháp luật. Việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều đã được thực hiện đúng quy định pháp luật. Đề nghị xem xét Công văn số 169/2002/KHXX ngày 15/11/2002 của Tòa án nhân dân Tối cao; Theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013 và Án lệ số 33/2020/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định diện tích đất tranh chấp là đất hương hỏa của gia đình cụ Võ N1, do bão lũ năm 1982 dẫn tới phải chuyển đi nơi khác sinh sống; việc sử dụng đất của ông K, bà T không đủ điều kiện để công nhận là chiếm hữu ngay tình, liên tục 30 năm theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Dân sự năm 2005, vụ việc này cũng không
8
thuộc trường hợp áp dụng Án lệ số 33/2020/AL; Công văn số 169/2002/KHXX ngày 15/11/2002 của Tòa án nhân dân Tối cao hay quy định tại khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013. Việc cấp GCNQSD đất cho ông K, bà T là không phù hợp quy định pháp luật. Nguyên đơn khởi kiện đòi lại thửa đất do cha ông để lại là có căn cứ, nhưng cũng cần xem xét tới công lao tôn tạo, quản lý thửa đất của ông K, bà T. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
- [1]. Về tố tụng:
- [1.1]. Nguyên đơn là bà Võ Thị L khởi kiện ông Võ Văn K, bà Võ Thị T khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; khoản 4 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
- [1.2]. Kháng cáo của bị đơn là ông Võ Văn K, bà Võ Thị T trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [1.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm, một số đương sự vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; một số đương sự vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền; một số đương sự vắng mặt nhưng không có kháng cáo và đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nên căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử.
- [2]. Xét kháng cáo của bị đơn là ông Võ Văn K, bà Võ Thị T, Hội đồng xét xử thấy:
- [2.1]. Về nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp:
Thửa đất tranh chấp theo Bản đồ 299 lập năm 1986 là thửa đất số 191, tờ bản đồ số 2, diện tích 637m²; Theo kết quả thẩm định ngày 04/4/2023 có diện tích 790m², theo bản đồ địa chính năm 2017 là một phần đất thuộc thửa đất số 396, tờ bản đồ số 41, diện tích 1.300,4 m². Quá trình sử dụng đất xác định không có tranh chấp về ranh giới với các hộ xung quanh.
Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp mặc dù nguyên đơn không xuất trình được các giấy tờ của cơ quan Nhà nước chứng minh nhưng căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, ý kiến của UBND huyện N, UBND xã X, lời khai của các đương sự, các bên đều thừa nhận thửa đất đang tranh chấp tại thôn H (nay là thôn A) xã X, huyện N, theo bản đồ 299 là thửa đất số 191, tờ bản đồ số 2, diện tích
9
637m² là của cụ Võ N1 (thường gọi là cụ H2). Đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định của Bộ luật Dân sự về căn cứ phát sinh quyền sở hữu đất thì cụ N1 đã xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất.
Theo Văn bản số 1474/UBND-TNMT ngày 14/4/2023 của UBND huyện N, Báo cáo số 152/BC-UBND ngày 23/11/2022 của UBND xã X (kết quả xác minh một số cá nhân có liên quan) xác nhận: “Thửa đất này trước đây cố H2 (Quỳ) và cố T6 (P) đã từng sinh sống. Đến năm 1982, bão đổ bộ vào, cố H2 và cố Thị C2 đi nơi khác. Gia đình bố mẹ vợ là ông Võ Đình T7 và bà Mai Thị V1 sử dụng, sau đó giao lại thửa đất cho ông Võ Văn K và bà Võ Thị T sử dụng cho đến nay”. Theo ý kiến của ông Phan Thanh H3 là Trưởng thôn An Toàn L4 tại Biên bản hoà giải ngày 28/01/2021 tại Ủy ban nhân dân xã X xác định: “Tôi lớn lên tôi có biết có hai thửa đất đó là đất cố R và thửa đất cố H2 đến khoảng năm 1982 cố R chuyển đi nơi khác còn việc mua bán giữa hai bên thì tôi không biết”; Tại Vi bằng số 90/2021/VB-TPL do Văn phòng Thừa phát lại thành phố V ngày 06/5/2021, ông H3 có lời khai: “Thửa đất hiện nay gia đình ông Võ Văn K và bà Võ Thị T đang sử dụng có nguồn gốc một phần là của ông Phan R (tên thật là Phan Văn D) và một phần là của gia đình cụ Võ N1 (tên thường gọi là cụ H2). Gia đình cụ Phan R và gia đình cụ H2 sống từ đời này qua đời khác trên thửa đất. Trước đây hai phần đất của hai gia đình này nằm liền kề nhau, nhưng nay gia đình ông Võ Văn K nhập hai thửa đất làm một và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và “Tại thời điểm ông Phan R1 và cụ H2 sinh sống trên thửa đất thì thửa đất của hai gia đình có tài sản là nhà hai gian, công trình giếng nước và cây cối trên đất”. Theo các biên bản xác minh ngày 06/5/2021, các nhân chứng nguyên là cán bộ địa chính, thôn trưởng, những người biết rõ về thửa đất của cụ Võ N1 đều khẳng định: Thửa đất 191, Tờ bản đồ số 2 là của cụ Võ N1 sử dụng ổn định từ bao đời nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn ông K, bà T cũng thừa nhận nguồn gốc thửa đất có tranh chấp là của gia đình cụ Võ Ngà .
Năm 1982, do bão, lũ nên gia đình cụ Võ N1 chuyển đi nơi khác sinh sống. Theo lời khai của đại diện UBND xã X và UBND huyện N thì việc gia đình cụ Võ N1 chuyển đi nơi khác là do tự chuyển đi chứ không phải do chủ trương của Nhà nước di dời dân để quy hoạch lại đất đai hay di dân đi vùng kinh tế mới tập trung theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Do đó, không có căn cứ để xác định thửa đất của Võ N1 đã được thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xác định việc UBND huyện N cấp GCNQSD đất đối với thửa đất có nguồn gốc sử dụng của cụ Võ N1 cho vợ chồng ông K vào năm 2004 (không có hồ sơ cấp GCNQSD đất, không thể hiện nguồn gốc đất) không phải là việc thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước như ý kiến của UBND huyện N và bị đơn là có cơ sở. Toà án cấp sơ thẩm đồng thời xác định UBND huyện N và phía bị đơn viện dẫn quy định tại khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013 và một số văn bản khác cho rằng Nhà nước không thừa nhận đòi lại đất trong trường hợp này là không phù hợp do đây không phải thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước là
10
có căn cứ.
Phía bị đơn cũng viện dẫn Công văn số 169/2002/KHXX ngày 15/11/2002 của Toà án nhân dân tối cao xác định trường hợp của bị đơn là việc thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước. Tuy nhiên, xem xét toàn bộ nội dung công văn hướng dẫn và tình tiết của vụ án này thì trường hợp này thuộc trường hợp được hướng dẫn tại mục 3 đã chỉ rõ: “Đối với trường hợp người thuê đất, mượn đất, chiếm dụng đất... của người khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho sử dụng do họ tự kê khai, tự làm các thủ tục mà không phải do việc thực hiện chính sách đất đai nào đó của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền N Việt Nam và N2, thì không phải là đối tượng thuộc đường lối xử lý nên trên của Chính phủ”. Trường hợp thửa đất này không thuộc quy định tại mục 1 và mục 2 (là trường hợp thực hiện chính sách đất đai của Nhà Nước) công văn trên mà thuộc mục 3 là ở trên đất người khác (ví dụ 2 trong công văn đã chỉ rõ), ông Võ Văn K không kê khai, không làm thủ tục xin cơ quan có thẩm quyền giao đất như Công văn đã nêu. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp đất đai trong vụ án này, Toà án cần căn vào các quy định của Luật đất đai, Bộ luật Dân sự cũng như các tài liệu, chứng cứ khác để xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cần tính đến công bảo quản tôn tạo đất của người đã sử dụng đất.
Phía bị đơn cho rằng đã làm đầy đủ thủ tục thủ tục kê khai quyền sử dụng đất, thủ tục xin cấp đất, thực hiện nghĩa vụ tài chính, nộp tiền sử dụng đất theo đúng quy định và viện dẫn khoản 6 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 để cho rằng ông K, bà T có quyền sử dụng hợp pháp toàn bộ thửa đất số 191 là không có căn cứ. Bởi vì, qua các chứng cứ và lời khai của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm thì ông K, bà T không có thủ tục kê khai quyền sử dụng đất, đơn xin giao đất, không nộp tiền sử dụng đất, không có hồ sơ công nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Đại diện UBND huyện N tại phiên tòa sơ thẩm cũng khẳng định việc cấp GCNQSD đất năm 2004 cho vợ chồng ông Võ Văn K là không đảm bảo thủ tục theo quy định, không xác định nguồn gốc đất.
Như vậy, có cơ sở để xác định nguồn gốc diện tích đất có tranh chấp là của gia đình nguyên đơn làm nhà ở sinh sống trên đất từ nhiều đời trước. Năm 1982, vì bão lũ nên chuyển sang phần đất ở thôn khác để sinh sống. Vợ chồng ông K quản lý sử dụng đất này nhưng không phải do nhận chuyển nhượng, tặng cho đất này, chính quyền địa phương cũng không có quyết định thu hồi của nguyên đơn hay có giao đất này cho bị đơn quản lý sử dụng, chính quyền địa phương cũng không thực hiện bất kỳ chính sách đất đai nào đối với thửa đất mà bị đơn đang quản lý, sử dụng. Diện tích đất này cũng không phải là đất do bị đơn khai hoang. Do đó, bị đơn trình bày sử dụng đất này từ năm 1982-1983 là không dựa trên căn cứ pháp luật nào. Đại diện bị đơn cho rằng ông K, bà T sử dụng ổn định thửa đất số 191 từ năm 1982 đến nay là không có căn cứ, thực tế khi lập bản đồ 299 năm 1986 thửa đất vẫn ghi là đất hoang. Do đó, lời khai của nguyên đơn về việc bị đơn tự ý chiếm dụng thửa đất của gia đình nguyên đơn là có căn cứ.
11
- [2.2]. Về quá trình sử dụng đất: Phía nguyên đơn cho rằng sau khi chuyển đến nơi khác sinh sống, gia đình vẫn trồng cây hái quả và thu hoạch cây. Đến năm 1992, do cả gia đình nguyên đơn chuyển vào N sinh sống thì ông Võ Đình C là con cụ Võ N1 đại điện gia đình viết giấy gửi lại đất cho bà Mai Thị V1 trông coi. Đại diện bị đơn cho rằng có việc năm 1992 ông C viết giấy ủy quyền quản lý thửa đất cho bà V, nhưng cho rằng giấy ủy quyền đó không có giá trị pháp lý vì lúc vợ cụ Võ N1 và các con cụ N1 là: Võ Khang, Võ Thanh T3, Võ Thị Hồng H2 (là anh chị em ruột của ông C) còn sống. Nhưng phía nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ việc họ ủy quyền cho ông Võ C viết giấy trên. Về nội dung này, Toà án cấp sơ thẩm xác định việc ủy quyền viết giấy là việc nội bộ của gia đình cụ Võ Ngà . Anh chị em ruột ông C không ai thắc mắc, khiếu nại về việc trên, việc ông Võ Đình C năm 1992 viết giấy ủy quyền cho bà V trông coi thu hoạch cây cối chứng tỏ sau khi chuyển đi nơi khác ở gia đình cụ Võ N1 vẫn tiếp tục sử dụng quản lý thửa đất đó. Sau khi đi vào Nam năm 1992 vẫn thể hiện ý chí quản lý sử dụng đất đó là có cơ sở.
- [2.3]. Mặt khác, thực tế ông K, bà T trước đó ở nhờ nhà người khác, đến năm 2002 mới làm nhà ở tại thửa đất số 274 phía sau thửa đất số 191. Tại thửa đất số 191 chỉ có một chuồng bò ông K làm (không xác định được thời gian). Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định việc sử dụng đất của ông K, bà T không đủ điều kiện để công nhận là chiếm hữu ngay tình, liên tục 30 năm theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Dân sự năm 2005 là có căn cứ. Vụ án này cũng không thuộc trường hợp áp dụng Án lệ số 33/2020/AL do có tình tiết, sự kiện pháp lý khác so với Á lệ số 33/2020/AL.
- [2.4]. Như vậy, căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự về xác lập và chấm dứt quyền sở hữu thì có cơ sở khẳng định bà Võ Thị L và các con của cụ Võ N1 còn sống đã xác lập quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 191 tại thôn A với diện tích 637m², đo đạc thực tế theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2023 là 790m² và chưa chấm dứt quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Do đó, nguyên đơn khởi kiện đòi lại thửa đất cha ông để lại là có căn cứ. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến công lao tôn tạo, bảo quản thửa đất của ông Võ Văn K và bà Võ Thị T. Vì vậy, để đảm bảo giải quyết vụ án đúng pháp luật, có lý, có tình, đảm bảo công bằng, lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của các bên đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông K, bà T trả lại diện tích 250m² trong thửa đất trên cho nguyên đơn (như nguyện vọng là làm nhà thờ), phần diện tích còn lại ông K, bà T được quyền sử dụng là phù hợp.
- [2.6]. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đồng thời hủy một phần GCNQSD đất là có căn cứ. Trong vụ án này Tòa án chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi lại thửa đất có nguồn gốc sử dụng của cụ Võ Ngà . Do đó, việc hủy GCNQSD đất chỉ liên quan đến phần cấp trùng lên thửa đất số 191 theo bản đồ 299. Các phần khác Tòa án không xem xét trong vụ án này. Thực tế, sau khi có quyết định của bản án sơ thẩm, mặc dù chưa có hiệu lực pháp luật nhưng Người có quyền
12
lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện N đã không kháng cáo bản án sơ thẩm và đồng thời ban hành Quyết định số 1779/QĐ-UBND ngày 11/4/2024 về việc hủy một phần GCNQSD đất số V770994 cấp ngày 10/10/2004 cho ông Võ Văn K.
- [3]. Mặc dù có kháng cáo nhưng ông Võ Văn K, bà Võ Thị T không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn K, bà Võ Thị T.
- [4]. Về án phí: Mặc dù kháng cáo không được chấp nhận nhưng do ông Võ Văn K, bà Võ Thị T là người cao tuổi, nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông K, bà T theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- [5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Võ Văn K, bà Võ Thị T; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Võ Văn K, bà Võ Thị T.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Anh Thắng |
13
Bản án số 414/2024/DS-PT ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 414/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Võ Văn K, bà Võ Thị T
