|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 414/2024/HS-ST Ngày 12-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Chính;
- Ông Trần Công Danh.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Lý– Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm - Hội trường số 4 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 425/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 422/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Phạm Thế H (tên gọi khác: không), sinh năm 2003 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số E, Tổ H, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Nguyễn Thị T; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: không; Tiền án: không.
Nhân thân: tại bản án số 07/2021/HS-ST ngày 06/1/2021, Bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 26/3/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh số 645/LTG ngày 04/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Phạm Thế H là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, Phạm Thế H đi bộ đến khu vực trước cổng Bệnh viện S thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) 02 gói ma tuý tổng hợp (ma túy đá) giá 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) mục đích để sử dụng. Sau đó, H cầm 02 gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi về nhà H tại địa chỉ E, tổ H, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi H về đến trước nhà thuộc địa chỉ nêu trên. H thấy lực lượng Công an phường A đang đi tuần tra đến gần. Do lo sợ bị phát hiện, H vứt 02 gói ma túy đá vừa mua được xuống đất rồi giẫm chân trái lên trên thì bị Cơ quan Công an phường A phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Tại Cơ quan điều tra Phạm Thế H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục 01-02). Lời khai, biên bản hỏi cung bị can (bút lục 43-52). Lời khai người làm chứng (bút lục 53-54).
Vật chứng thu giữ: 02 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng, đã được niêm phong có chữ ký của Phạm Thế H và dấu mộc của Công an phường A. (Bút lục 01-02)
Tại Kết luận giám định số 639/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng 0,523 gam, loại Methamphetamine. (Bút lục 09)
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 419/CT-VKSBH-HS ngày 16/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Thế H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- + Áp dụng điểm c, Khoản 1, Điều 249 và điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phạm Thế H từ: 20 tháng đến 24 tháng tù.
- + Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: đề nghị tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy sau giám định.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thế H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ ngày 26/3/2024, tại trước nhà E, tổ H, khu phố C, phường A, thành phố B, Phạm Thế H có hành vi tàng trữ trái phép 0,523 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Cơ quan Công an phường A phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Phạm Thế H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm vào đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, góp phần làm gia tăng các tệ nạn, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Như vậy, bản Cáo trạng số 419/CT-VKSBH-HS ngày 16/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Phạm Thế H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về nhân thân: bị cáo đã từng bị xử phạt tù về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ được được quy định tại điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Phạm Thế H để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về vật chứng và các vấn đề khác có liên quan vụ án:
- Đối với toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với đối tượng (không rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: do bị cáo bị xác định là có tội nên cần buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là đúng quy định pháp luật và phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.
- Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm c, Khoản 1, Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Xác định bị cáo Phạm Thế H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Thế H 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26 tháng 3 năm 2024.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 46, điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy sau giám định trong gói niêm phong số 639/KL- KTHS ngày 03/4/2024.
Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Thế H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo Phạm Thế H được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huệ |
5
Bản án số 414/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 414/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thế H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015
