TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 414/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 12 - 2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phan Công Văn;
- 2. Bà Dương Thị Thúy Duy.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký
Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 315/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1114/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ B, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ F, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
(Ông N, bà T có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Văn N trình bày: Hôn nhân giữa ông và bà Huỳnh Thị Tuyết T là do mai mối và chung sống như vợ chồng từ năm 1998, đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã V, huyện A theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 226 ngày 27/12/ 2002. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cho đến tháng 6/2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, không ai quan tâm đến ai, mọi quyết định là do bà T quyết định, không bàn bạc và không tôn trọng ý kiến của ông, từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên đến tháng 5/2023, ông nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện An Phú. Tại Bản án số: 271/2023/HNGĐ-ST ngày 26/7/2023, quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N về yêu cầu xin ly hôn với bà T. Từ sau khi Tòa án không chấp nhận ly hôn đến nay, ông và bà T không sống chung, cũng không có giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng và không ai quan tâm đến ai, gia đình hai bên cũng nhiều lần khuyên ngăn nhưng không thành và thấy mâu thuẫn đã trầm trọng nên để cho ông tự quyết định. Do mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, ông và bà T không thể hàn gắn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với nhau nên ông yêu cầu được ly hôn với bà T.
Về con chung: Có 02 con chung tên: 1/ Nguyễn Thị Kim Q, sinh ngày: 10/3/2000; 2/ Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày: 03/01/2004. Do con chung đã trưởng thành, sống tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Huỳnh Thị T trình bày: Bà thống nhất với ông N về điều kiện đi đến hôn nhân, thời gian sống chung và thời gian đăng ký kết hôn. Bà và ông N đã sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Ngon ăn C1, bà nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được dẫn đến vợ chồng cự cãi. Từ sau khi Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn, ông N có về thăm con, còn bà và ông N thì bỏ mặc nhau không ai hỏi thăm đến ai, không quan tâm nhau, bà cũng muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có cơ hội nói chuyện với nhau và gia đình hai bên do đã lớn tuổi nên để cho con cái tự quyết định. Trong thời gian sống ly thân, ông N đi làm thuê ở C, còn bà thì cũng bận làm rẫy và làm thuê nên cũng không có thời gian quan tâm đến nhau nhưng bà vẫn còn tình cảm với ông N nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Thống nhất với ông N họ tên năm, sinh con chung đúng như lời ông N trình bày. Do con chung đã trưởng thành, sống tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản xác minh, người thân ông ông Nguyễn Văn N cung cấp: Hôn nhân của ông Nguyễn Văn N và bà Huỳnh Thị T là do mai mối tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông N và bà T là do sau khi kết hôn, ông N về làm rể và sinh sống tại nhà bà T, mỗi lần hai vợ chồng gây cãi, bà T luôn đuổi ông N về nhà mẹ ruột. Bà T và ông N đã nhiều lần gây cãi rồi tái hợp nhưng đến nay vẫn không chung sống được, ông N đã nhiều lần muốn ly hôn nhưng do thương con nên mặc dù hai vợ chồng bất đồng quan điểm nhưng ông vẫn cố gắng nhẫn nhịn mà chăm lo cho con. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài cho đến tháng 6/2022 thì sống ly thân cho đến nay. Đến tháng 5/2023, ông N khởi kiện xin ly hôn nhưng không được Toà án chấp nhân. Từ đó cho đến nay, ông N và bà T cũng bỏ mặc, không ai quan tâm đến ai. Gia đình hai bên cũng có khuyên ngăn hai vợ chồng nhưng không thành. Theo bà thì khả năng hàn gắn của hai người là không thể. Về con chung thì ông N và bà T có 02 con chung, hiện đã trưởng thành; về tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.
Tại phiên toà:
Ông Nguyễn Văn N trình bày: Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, không trình bày bổ sung.
Bà Huỳnh Thị T trình bày: Bà cho rằng vợ chồng bà không mâu thuẫn trầm trọng nên không đồng ý ly hôn.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi;
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của ông Nguyễn Văn N, bà Huỳnh Thị T có mâu thuẫn trầm trọng, cả hai không có giải pháp hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn N theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Các con chung đã trưởng thành và đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn N yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị Tuyết . Bà T cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án nhân dân huyện An Phú thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn N kiện xin ly hôn với bà Huỳnh Thị Tuyết . Xác định ông N là nguyên đơn, bà T là bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện:
Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn N, bà Huỳnh Thị T do mai mối tiến tới hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 226 ngày 27/12/2002 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N xin ly hôn với bà Huỳnh Thị T: Ông N cho rằng mâu thuẫn tình cảm giữa ông và bà T đã thật sự trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cự cải, không có tiếng nói chung và không thể hàn gắn. Còn bà T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Ngon ăn C1, bà nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được dẫn đến vợ chồng cự cãi. Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn tình cảm giữa ông N, bà T phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, ông N đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn và được Tòa án nhân dân huyện An Phú giải quyết bằng Bản án số 271/2023/HNGĐ-ST ngày 26/7/2023: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Về việc xin ly hôn với bà Huỳnh Thị Tuyết . Đến ngày 23/9/2024 ông N tiếp tục nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với bà T. Tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông N kiên quyết ly hôn. Bà T thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không trầm trọng như lời ông N trình bày, bà không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải pháp hàn gắn. Theo kết quả xác minh, ông N và bà T phát sinh mâu thuẫn từ lâu, cả hai bỏ mặc nhau, không ai qua tâm đến ai, gia đình hai bên cũng nhiều lần khuyên ngăn nhưng không thành. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa ông N và bà T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của ông N có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Có 02 con chung tên: 1/ Nguyễn Thị Kim Q, sinh ngày: 10/3/2000; 2/ Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày: 03/01/2004. Hiện con chung đã trưởng thành và sống tự lập, đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông N và bà T cùng xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Ông N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Các Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N được ly hôn với bà Huỳnh Thị Tuyết .
Về án phí: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà ông Nguyễn Văn N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0010097 ngày 29/10/2024.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/12/2024).
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sang |
Bản án số 414/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 414/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông N xin ly hôn bà T
