Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4135/2024/DS-ST

Ngày: 30/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi
  2. Bà Võ Thị Gái

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 776/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5945/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6623/2024/QÐST- DS ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1)

Địa chỉ: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T (Văn bản ủy quyền số 5425/2023/UQ-TGĐ ngày 28/12/2023).

- Bị đơn: Ông Lâm Văn T1, sinh năm: 1993.

Địa chỉ: Số G đường T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S ông Nguyễn Minh T có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Lâm Văn T1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn – Ngân hàng TMCP S có ông Nguyễn Minh T là đại diện ủy quyền trình bày:

Ngày 25/09/2022, ông Lâm Văn T1 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 19.983.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 500.000 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 11/04/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tạm tính đến ngày 30/8/2024, ông Lâm Văn T1 còn nợ Ngân hàng TMCP S các khoản sau: Dư nợ gốc là 24.050.930 đồng; Lãi quá hạn là 15.162.276 đồng. Tổng cộng là 39.213.206 đồng (Ba mươi chín triệu hai trăm mười ba nghìn hai trăm linh sáu đồng).

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 24.050.930 đồng với lãi suất quá hạn là 3.723%/ tháng (lãi trong hạn 2.482%*150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

Mặc dù, Ngân hàng đã yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán nhưng ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lâm Văn T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2024: Dư nợ gốc là 24.050.930 đồng; Lãi quá hạn là 15.162.276 đồng. Tổng cộng là 39.213.206 đồng (Ba mươi chín triệu hai trăm mười ba nghìn hai trăm linh sáu đồng). Ngoài ra, Ông Lâm Văn T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 31/8/2024 cho đến khi trả đứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn ông Lâm Văn T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nên Tòa án không thu thập được ý kiến và tài liệu chứng cứ của ông T1 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

  1. Về tố tụng:
  2. Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án án nhân dân thành phố T cần rút kinh nghiệm.

  3. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) khởi kiện ông Lâm Văn T1 yêu cầu ông T1 phải thanh toán nợ gốc, lãi quá hạn phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn - ông Lâm Văn T1 có hộ khẩu thường trú và hiện đang thực tế cư trú tại thành phố T, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ vào kết quả của Phiếu yêu cầu xác minh số 776.1/PXM ngày 26/4/2024, Công an phường L, thành phố T trả lời như sau: “Đương sự Lâm Văn T1, SN 1993. HKTT: Số G đường T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đương sự có thực tế cư trú và sinh sống tại địa chỉ trên”.

Tuy nhiên, tại các thời điểm Tòa án thực hiện việc tống đạt, ông T1 không có mặt ở nhà, không có ai khác nhận thay văn bản để tống đạt. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thể thực hiện thủ tục tống đạt trực tiếp được cho ông T1.

Do không tống đạt trực tiếp được, áp dụng Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại 03 nơi: Nơi cư trú của ông Lâm Văn T1 tại địa chỉ số G đường T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T và tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thời gian niêm yết văn bản tố tụng là 15 ngày kể từ ngày niêm yết. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có Đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi:

Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Lâm Văn T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết 30/8/2024: Dư nợ gốc là 24.050.930 đồng; Lãi quá hạn là 15.162.276 đồng. Tổng cộng là 39.213.206 đồng (Ba mươi chín triệu hai trăm mười ba nghìn hai trăm linh sáu đồng) và lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng tín dụng ngày 25/9/2022 của ông Lâm Văn T1, Ngân hàng TMCP S đồng ý cấp thẻ tín dụng số 436438-6235 loại thẻ Visa P, hạn mức 20.000.000 đồng, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn theo Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Các thỏa thuận này không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Quá trình tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bản tóm tắt sao kê ngày 30/8/2024, căn cứ vào hồ sơ đề nghị cấp thẻ tín dụng của bị đơn để xác định bị đơn đã nhận thẻ và thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 19.983.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 500.000 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tạm tính đến ngày 30/8/2024, ông Lâm Văn T1 còn nợ Ngân hàng TMCP S các khoản sau: Dư nợ gốc là 24.050.930 đồng (Căn cứ theo thứ tự thanh toán tại Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) là có căn cứ nên chấp nhận.

Về số tiền lãi: Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có hiệu lực ngày 15/8/2018), ngày 11/04/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Ngân hàng yêu cầu tính lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 24,050,930 đồng với lãi suất quá hạn là 3.723%/tháng (lãi trong hạn 2.482%*150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại là phù hợp Điều 18, Điều 24 Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Ngân hàng TMCP S là tổ chức tín dụng được phép kinh doanh tiền tệ, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng thì các tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng. Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng xác lập ngày 25/9/2022, ông Lâm Văn T1 cam kết: “Tôi/ chúng tôi xác nhận rằng tôi/chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều Khoản và Điều Kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1...”. Như vậy, lãi suất được Ngân hàng TMCP S sử dụng để tính lãi đối với khoản nợ của ông T1 tính đến ngày 30/8/2024 với số tiền lãi 15.162.276 đồng là phù hợp với mức lãi suất quy định nên có căn cứ để chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đầy đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S buộc ông Lâm Văn T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến hết ngày 30/8/2024 tổng số tiền là 39.213.206 đồng, trong đó: Dư nợ gốc là 24.050.930 đồng; Lãi quá hạn là 15.162.276 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.

[4]. Về án phí:

Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí. Ông Lâm Văn T1 phải chịu án phí là 1.960.660 đồng (Một triệu chín trăm sáu mươi nghìn sáu trăm sáu mươi) đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 790.056 đồng theo biên lai thu số 0026138 ngày 05/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ- HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo;
  • Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với ông Lâm Văn T1 về việc thanh toán các khoản nợ tín dụng.
  2. Buộc ông Lâm Văn T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 39.213.206 đồng (Ba mươi chín triệu hai trăm mười ba nghìn hai trăm linh sáu đồng), trong đó: Nợ gốc: 24.050.930 đồng, Lãi quá hạn: 15.162.276 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Lâm Văn T1 còn phải lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  3. Về án phí: Ông Lâm Văn T1 phải chịu án phí là 1.960.660 đồng (Một triệu chín trăm sáu mươi nghìn sáu trăm sáu mươi đồng). Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 790.056 đồng (B trăm chín mươi nghìn không trăm năm mươi sáu đồng) theo biên lai thu số 0026138 ngày 05/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Ông Lâm Văn T1 chưa nộp án phí.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S, ông Lâm Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4135/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 4135/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger