TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 413 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/8/2024
V/v: không công nhận vợ chồng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Thanh Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:
Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 239/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng - nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trọng T tìm hiểu và tự nguyện chung sống được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào ngày 26/10/2002 nhưng do khi đó chị chưa đủ tuổi kết hôn nên không đi đăng ký kết hôn. Sau khi cưới anh chị chung sống tại nhà anh T ở thôn A, xã T, huyện C. Quá trình chung sống đến năm 2013 chị đi lao động ở Đài Loan anh T ở nhà nảy sinh ghen tuông. Đến năm 2022 chị về nước anh T thường xuyên uống rượu, chửi bới, đánh đập đuổi nên chị phải về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Nay chị xác định không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên chị đề nghị Tòa án không công nhận chị và anh T là vợ chồng.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị và anh T có 04 con chung là Nguyễn Thị T1, sinh ngày 19/11/2003; Nguyễn Thị H, sinh ngày 11/12/2005; Nguyễn Trọng L1, sinh ngày 31/5/2008; Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/11/2010. Cháu T1 đã lấy chồng, cháu H đã đến tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị xin được nuôi hai cháu L1 và K, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Hiện tại chị đang làm tự do thu nhập 6.000.000 đồng/ 01 tháng.
Về tài sản chung và công nợ, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn anh Nguyễn Trọng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L sau thời gian tìm hiểu được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới ngày 26/10/2002. Sau khi cưới khoảng 3 tháng anh và chị L ra Ủy ban nhân dân xã T đăng ký kết hôn cụ thể ngày nào anh không nhớ vì giấy chứng nhận kết hôn chị L giữ. Quá trình chung sống đến khi chị L đi Đài Loan về không rõ lý do gì chị L bỏ về nhà ngoại ở cho đến nay. Theo chị L khai do anh ghen tuông là không đúng, anh xác nhận có việc uống rượu, chửi bới đuổi chị L. Nay chị L đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng anh không đồng ý vì các con vẫn muốn mẹ về chung sống.
Về con chung: Anh và chị L có 04 con chung là Nguyễn Thị T1, sinh ngày 19/11/2003; Nguyễn Thị H, sinh ngày 11/12/2005; Nguyễn Trọng L1, sinh ngày 31/5/2008; Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/11/2010. Cháu T1 đã lấy chồng, cháu H đã đến tuổi trưởng thành. Nếu Tòa án không công nhận là vợ chồng anh xin được nuôi hai cháu L1 và K, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Hiện tại anh đang làm tự do thu nhập 10.000.000 đồng/ 01 tháng.
Về tài sản chung và công nợ, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Tại biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T thể hiện: Theo sổ đăng ký kết hôn từ năm 2002 đến ngày 16/7/2024 không có thông tin đăng ký kết hôn giữa chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986 và anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1974. Chị L và anh T chung sống với nhau như vợ chồng tại thôn A, xã T, huyện C từ năm 2002 và sinh được bốn con chung.
4. Tại biên bản xác minh tại Phòng tư pháp huyện Chương Mỹ thể hiện: Theo sổ đăng ký kết hôn của xã T năm 2002 không có trường hợp nào có tên chồng là Nguyễn Trọng T, sinh năm 1974 và tên vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1986.
5. Ý kiến đương sự tại phiên tòa:
- Chị L: vẫn giữ yêu cầu Tòa án không công nhận chị và anh T là vợ chồng. Về con chung: cháu Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Thị H đã đến tuổi trưởng thành, cháu Nguyễn Trọng L1 và Nguyễn Thị K có nguyện vọng ở với bố nên chị đồng ý để anh T nuôi hai cháu L1 và K, chị xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh T: vẫn mong muốn chị L về chung sống với anh và các con. Về con chung: trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị L, anh xin nuôi cả hai cháu Nguyễn Trọng L1 và Nguyễn Thị K, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Cháu T1 và H đã đến tuổi trưởng thành. Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
6. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung: Chị L và anh T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2002 đến nay nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, không công nhận quan hệ giữa chị L và anh T là vợ chồng.
Về con chung: Chị L và anh T có bốn con chung là Nguyễn Thị T1, sinh ngày 19/11/2003; Nguyễn Thị H, sinh ngày 11/12/2005; Nguyễn Trọng L1, sinh ngày 31/5/2008; Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/11/2010. Cháu T1 và cháu H đều trên 18 tuổi, không có nhược điểm về thể chất, tinh thần. Giao anh T được quyền nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Trọng L1 và Nguyễn Thị K, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị L.
Về tài sản, công sức, công nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện về việc không công nhận vợ chồng với anh Nguyễn Trọng T cư trú tại thôn A, xã T, huyện C, Tp .. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Trọng T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2002 đến nay nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh T trình bày sau khi được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới ngày 26/10/2002 khoảng 3 tháng anh và chị L có ra UBND xã Thượng Vực đăng ký kết hôn cụ thể ngày nào anh không nhớ vì giấy chứng nhận kết hôn chị L giữ. Thực tế thời điểm đó chị L chưa đủ 18 tuổi nên không thể thực hiện việc đăng ký kết hôn được. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là không hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Quá trình chung sống giữa chị L và anh T xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và hiện đã sống ly thân. Căn cứ Điều 14, 15 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn yêu cầu không công nhận vợ chồng của chị Nguyễn Thị L với anh Nguyễn Trọng T.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống chị L và anh T xác nhận có 04 con chung là Nguyễn Thị T1, sinh ngày 19/11/2003; Nguyễn Thị H, sinh ngày 11/12/2005; Nguyễn Trọng L1, sinh ngày 31/5/2008; Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/11/2010. Hiện cháu T1, cháu H đều đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất, tinh thần.
Xét thấy cháu L1 và cháu K đều trên 07 tuổi và cùng có nguyện vọng ở với bố, từ khi anh chị ly thân đến nay hai cháu vẫn đang ở ổn định với anh T và bà nội. Chị L tôn trọng nguyện vọng của cháu L1 và K ở với anh T. Do đó giao anh T được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung Nguyễn Trọng L1, sinh ngày 31/5/2008; Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/11/2010 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có quyết định thay đổi khác.
Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L đến khi có Quyết định thay đổi khác.
[2.4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L và anh T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[2.5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Các Điều 9, 14, 15, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Trọng T.
2. Về con chung: Chị L và anh T có 04 con chung là Nguyễn Thị T1, sinh ngày 19/11/2003; Nguyễn Thị H, sinh ngày 11/12/2005; Nguyễn Trọng L1, sinh ngày 31/5/2008; Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/11/2010. Cháu Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H đều đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), không có nhược điểm về thể chất, tinh thần nên không xem xét.
Anh Nguyễn Trọng T được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là Nguyễn Trọng L1, sinh ngày 31/5/2008; Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/11/2010 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có quyết định thay đổi khác.
Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chi L đến khi có Quyết định thay đổi khác.
4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002107 ngày 31/5/2024.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Trọng T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Chương Mỹ; - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ; - Đương sự; - UBND xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ (trường hợp án có HLPL) - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Lợi |
Bản án số 413/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội về không công nhận vợ chồng
- Số bản án: 413/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố ly hôn
